Quyền của phụ nữ Trung Quốc bị xâm phạm hàng ngày

Wednesday, March 24th, 2021

Thiện Đức | DKN 

Trái: Flickr/Thomas Fisher Rare Book Library, UofT ,Phải: chụp màn hình video CNN

Bài bình luận của tác giả Debbie Cho trên tờ Vision Times.

Sau đây là nguyên văn bài viết:

Trung Quốc luôn nói đề cao Ngày quốc tế Phụ nữ cũng như bình đẳng giới, nhưng thực tế cho thấy một thực trạng hoàn toàn ngược lại.

Ngày Quốc tế Phụ nữ (8/3) là ngày lễ kỷ niệm toàn cầu về các thành tựu và quyền xã hội, kinh tế, văn hóa và chính trị của phụ nữ.

Ngày lễ bắt nguồn từ phong trào xã hội chủ nghĩa thời kỳ đầu ở Mỹ khi công nhân may mặc ở New York và Chicago đình công vào năm 1908 vì muốn có điều kiện làm việc và tiền lương tốt hơn. Các phong trào xã hội chủ nghĩa đã đón nhận ngày này, đặc biệt là Đảng Cộng sản Nga, khi tuyên bố định ra Ngày Phụ nữ vào ngày 8/3/1922. Sau đó, ĐCSTQ đã thông qua ngày lễ này vào năm 1949 dưới thời Mao Trạch Đông, người đã tuyên bố phụ nữ “nắm giữ một nửa bầu trời”. Năm 1977, LHQ đã chính thức công nhận ngày này là một ngày lễ chính thức của Liên Hợp Quốc.

Ở Trung Quốc, Ngày Phụ nữ được gọi là ‘Sanba Jie’ và ban đầu có ý nghĩa thúc đẩy bình đẳng giới và cơ hội việc làm cho phụ nữ thường được gắn liền với vai trò nội trợ.

Mặc dù hệ tư tưởng cộng sản nguyên thủy đề cao sự bình đẳng tuyệt đối, nhưng hiện trạng ở Trung Quốc ngày nay không có nhiều điểm tương đồng với cái gọi là nam nữ bình quyền. Có sự chênh lệch ngày càng lớn giữa nam và nữ thể hiện rõ ràng trong chênh lệch tiền lương. Đến năm 2019, tình trạng chênh lệch này tiếp tục gia tăng, và đây là năm thứ 5 liên tiếp.

Quyền lực tối thượng của nam giới ở Trung Quốc hiện đại

Theo nhà tuyển dụng trực tuyến Boss Zhipin, thì ở Trung Quốc, vào năm 2019, phụ nữ kiếm được 78,2 xu cho mỗi đô la mà nam giới kiếm được. Đối với thứ hạng quốc tế về chênh lệch tiền lương, Trung Quốc đứng thứ 57 trong số 139 quốc gia được khảo sát vào năm 2008 nhưng đã tụt hạng xuống mức 103 trong số 149 quốc gia được khảo sát vào năm 2019. 

Cảnh tượng minh họa cảnh phụ nữ đi làm ở Trung Quốc vào năm 1964 tại Thư viện Sách hiếm Thomas Fisher, UofT (Ảnh: Flickr được cấp phép theo CC BY 2.0)

Bất bình đẳng giới cũng thể hiện rõ ràng trong các cơ hội việc làm và các vị trí trong chính phủ. Các vị trí việc làm có thể đăng thông báo tuyển dụng chỉ dành cho các ứng viên nam và một số ngành công nghiệp cho phụ nữ nghỉ hưu ở tuổi 50, tức là 10 năm trước các đồng nghiệp nam. Chênh lệch tuổi nghỉ hưu có thể dẫn đến mất thu nhập và khả năng thăng tiến.

Sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã được thể hiện rõ trong một cuộc khảo sát chính thức của đảng năm 2017 trong đó phụ nữ được các nhà chức trách đặt câu hỏi về việc liệu họ có dự định có con sớm hay không. 54% phụ nữ được hỏi đã xác nhận tình trạng phân biệt đối xử này. Trong chính trị, có rất ít phụ nữ tại các vị trí lãnh đạo. Chỉ có một phụ nữ là thành viên của Bộ Chính trị tính đến năm 2021.

Vào năm 2012, chính phủ đã đóng cửa một trung tâm dành cho phụ nữ ở Bắc Kinh, nơi cung cấp lời khuyên pháp lý cho phụ nữ về vấn nạn quấy rối tình dục tại nơi làm việc, bạo lực gia đình và thủ tục ly hôn. Ba năm sau, vào năm 2015, một nhóm phụ nữ được mệnh danh là ‘Năm nhà nữ quyền’ đã bị bắt và giam giữ trong 37 ngày vì phân phát các nhãn dán chống quấy rối tình dục tại các ga xe buýt và tàu điện ngầm.

Mặc dù những phụ nữ này không thể hiện bất đồng chính kiến chính trị, nhưng ĐCSTQ đã coi những hành động của họ như một sự xúc phạm đối với “các chính sách cơ bản về bình đẳng giới”. Một năm sau, một triển lãm nghệ thuật ở Bắc Kinh về nữ quyền và bạo lực gia đình đã bị đóng cửa trước khi khai mạc. Những hành vi này phủ nhận bình đẳng giới ở một quốc gia được thành lập dựa trên nguyên tắc bình đẳng tuyệt đối, ít nhất là trên danh nghĩa.

Cuộc biểu tình nhân ngày phụ nữ của người Duy Ngô Nhĩ và người Kazakhstan

Theo báo cáo của Bitter Winter, nhiều người đã kỷ niệm Ngày Phụ nữ, và ngày này cũng được kỷ niệm bởi những người biểu tình nữ ở Almaty, Kazakhstan và Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ. Những người phụ nữ đứng bên ngoài Lãnh sự quán Trung Quốc để lên tiếng cho những người phụ nữ trong trại tập trung ở Tân Cương, Trung Quốc. Người Duy Ngô Nhĩ là một nhóm thiểu số Hồi giáo gốc Thổ Nhĩ Kỳ chủ yếu sống ở Khu tự trị Tân Cương, phía tây bắc Trung Quốc và đã bị cáo buộc cổ vũ chủ nghĩa khủng bố và chủ nghĩa ly khai.

Việc giam giữ hàng loạt, lao động cưỡng bức và tra tấn các nhóm sắc tộc Duy Ngô Nhĩ và Kazakh ở Trung Quốc đã bị cựu Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo và Quốc hội Canada, Hà Lan quy cho tội diệt chủng.

BBC gần đây đã đưa tin về cách ĐCSTQ đối xử với những phụ nữ trong trại tập trung, khi họ phải đối mặt với nạn cưỡng hiếp, đặt vòng tránh thai, triệt sản và cưỡng bức phá thai.

Theo DKN.TV

Chuyên gia bình luận: Sự tiếp tục hiện diện của Mỹ ở châu Á có lợi cho Việt Nam – VOA Tiếng Việt

Thursday, March 18th, 2021

18/03/2021

Thủ tướng Nhật Yoshihide Suga (phải), Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken (giữa) và Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Lloyd Austin tại Tokyo ngày 16/3/2021.

(more…)

Mỹ, Anh, Pháp đồng loạt giới thiệu dự luật ngăn ĐCSTQ cưỡng bức mổ cướp nội tạng

Tuesday, March 16th, 2021
Hình ảnh minh họa từ video của Turkey Lotus.

Thiện Phong | DKN 

Mục lục bài viết

Trong sáu tháng qua, quốc hội các nước Hoa Kỳ, Anh và Pháp đã liên tiếp đưa ra các dự luật mới nhằm chống lại hành vi cưỡng bức mổ cướp nội tạng của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đối với các tù nhân lương tâm, theo Epoch Times.

Anh hành động

Ngày 11/2/2021, “Dự luật Thuốc và Thiết bị Y tế” (Medicines and Medical Devices Bill – MMDB) sửa đổi của Anh đã được thông qua và chính thức trở thành luật. Luật này chống lại tội ác mổ cướp nội tạng sống mà ĐCSTQ hậu thuẫn. Cụ thể, MMDB đảm bảo rằng các mô, cơ quan và tế bào của con người được nhập khẩu từ nước ngoài (có thể bị thu hoạch cưỡng bức từ các tù nhân lương tâm) không cho phép xâm nhập vào cộng đồng y tế Anh.

Vào tháng 3 năm 2020, Tòa án nhân dân độc lập ở London, Vương quốc Anh (China Tribunal, còn được gọi là Tòa án Trung Quốc) ở London, sau khi xem xét chi tiết lời khai của các nhân chứng, đã đưa ra phán quyết bằng văn bản: ĐCSTQ đã phạm “tội ác chống lại loài người” đối với các nhóm người tu luyện Pháp Luân Công và người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương.

Mỹ tiếp bước

Vào 9/3/2021, các Thượng nghị sĩ và Dân biểu Hoa Kỳ đã giới thiệu “Dự luật chống lại việc đàn áp cưỡng bức thu hoạch nội tạng sống”. Dự luật này đã từng được đề xuất vào tháng 12 năm 2020.

Dự luật có năm tầng ý nghĩa quan trọng

1. Cho phép chính phủ Hoa Kỳ từ chối hoặc thu hồi hộ chiếu của những người mua bán nội tạng bất hợp pháp.

2. Yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ ban hành các báo cáo hàng năm về tình trạng cưỡng bức mổ cướp nội tạng ở nước ngoài. Báo cáo sẽ xác định những cá nhân và tổ chức phải chịu trách nhiệm về việc cưỡng bức mổ cướp nội tạng.

3.Yêu cầu chính phủ cung cấp báo cáo hàng năm về tình trạng của “các cơ sở đào tạo bác sĩ phẫu thuật cấy ghép nội tạng ở  Mỹ, và các cơ sở nước ngoài liên quan đến cưỡng bức thu hoạch nội tạng người”.

4. Không được xuất khẩu thiết bị phẫu thuật ghép tạng cho các đối tượng tham gia cưỡng bức thu hoạch nội tạng người.

5. Áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với các quan chức và tổ chức nước ngoài tham gia hoặc hỗ trợ cưỡng bức thu hoạch nội tạng người.

Pháp đồng hành

Vào 15/9/2020, hơn 60 thành viên của Quốc hội Pháp đã cùng nhau đề xuất một dự luật  để chống lại hoạt động cấy ghép, mổ cướp và buôn bán nội tạng người của ĐCSTQ.

Đề xuất này đã được đệ trình lên Quốc hội Pháp và được đánh số “3316”.

Đề xuất số 3316 nêu rõ rằng các nguồn cung cấp nội tạng bất hợp pháp chủ yếu từ các học viên Pháp Luân Công bị bức hại bởi ĐCSTQ.

Nội dung đề xuất như sau: Để “đảm bảo đạo đức hiến tạng”, các quy định về y tế công cộng của Pháp cần được sửa đổi, để giám sát các cá nhân, cơ sở y tế hoặc các nghiên cứu của Pháp trong việc hợp tác với các nước bên ngoài EU  phải tuân thủ đạo đức của việc cấy ghép nội tạng, để không trở thành một băng nhóm tội ác.

Tội ác cưỡng bức thu hoạch nội tạng người của ĐCSTQ đã bị phanh phui vào năm 2006. Kể từ đó, rất nhiều báo cáo điều tra quốc tế đã cáo buộc rằng ĐCSTQ đã cưỡng bức mổ cướp nội tạng từ các tù nhân lương tâm như các học viên Pháp Luân Công.

Học viên Pháp Luân Công là đối tượng chính của nạn mổ cướp nội tạng

Vào 22/6/2016, một báo cáo điều tra có tên “Thu hoạch đẫm máu: cập nhật” (The Slaughter: An Update) chỉ ra các hành vi cưỡng bức mổ cướp nội tạng người của ĐCSTQ đã chính thức được công chiếu tại Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia ở Washington. DC. Mỹ.

Ba đồng tác giả của báo cáo; gồm cựu Quốc vụ khanh kiêm nghị sĩ quốc hội liên bang Canada David Kilgour, phóng viên điều tra kỳ cựu của Hoa Kỳ Ethan Gutmann và luật sư nhân quyền người Canada David Matas; cho biết rằng trong 15 năm qua (tính tới thời điểm báo cáo), ở Trung Quốc, ước tính có hơn 1,5 triệu ca cấy ghép nội tạng đã được thực hiện, nguồn nội tạng này chủ yếu là mổ cướp từ các học viên Pháp Luân Công.

Trong hơn một thập kỷ qua, nhiều quốc gia đã cùng thông qua luật chống lại và ngăn chặn các hoạt động cưỡng bức mổ cướp nội tạng của ĐCSTQ đối với các học viên Pháp Luân Công và các nhóm dân tộc thiểu số ở Trung Quốc.

Nhiều nước có luật chống cấy ghép và buôn bán nội tạng trái phép

Năm 2010, Tây Ban Nha đã thông qua dự luật mới, cấm công dân của mình đến Trung Quốc để cấy ghép nội tạng, và tất cả những ai liên quan, cung cấp, quảng bá, cho các tổ chức cấy ghép trái phép và mổ cướp nội tạng sẽ phải đối mặt với mức án từ 3 đến 12 năm tù.

Vào tháng 4 năm 2012, Chính phủ Israel đã ban hành luật cấm người Israel ra nước ngoài cấy ghép nội tạng không rõ nguồn gốc (thường được gọi là du lịch cấy ghép nội tạng), và cấm các công ty bảo hiểm trả tiền cho công dân Israel cấy ghép nội tạng ở nước ngoài.

Vào 12/6/2015, Hội động lập pháp Đài Loan đã thông qua lần đọc thứ ba của bản sửa đổi Quy định về Cấy ghép bộ phận cơ thể người, tuyên bố rằng bất kể công dân nào chấp nhận hoặc cung cấp dịch vụ cấy ghép nội tạng trong nước hay nước ngoài, họ phải thực hiện theo hình thức “hiến tặng miễn phí”. Người vi phạm sẽ phải đối mặt mức án tối đa 5 năm tù giam và phạt 1,5 triệu Đài tệ. Nếu bác sĩ có liên quan đến việc này sẽ lập tức bị thu hồi giấy phép.

Vào năm 2017, Quốc hội Na Uy đã thông qua một sửa đổi đối với “Đạo luật Cấy ghép Nội tạng”. Bản sửa đổi đã được Bộ Y tế Na Uy trình lên quốc hội theo “Công ước của Hội đồng Châu Âu về chống buôn bán bộ phận cơ thể người” vào đầu tháng 4/2017. Dự luật đã được quốc hội nhất trí thông qua vào 16/6/2017 và bắt đầu được thực hiện vào 1/7/2017.

Vào 30/4/2019, “Đạo luật S-240” nhằm chống thu hoạch cưỡng bức và buôn bán trái phép nội tạng người đã giành được sự ủng hộ của tất cả các bên trong Quốc hội Canada. Sau khi xem xét lần thứ ba, toàn thể Quốc hội đã thông qua dự luật.

DKN.TV

Nathalie Guibert – Trung Quốc, Cường quốc tấn công luật biển – La Chine, un empire à l’assaut du droit de la mer Le Monde

Tuesday, March 16th, 2021

La Chine, un empire à l’assaut du droit de la mer  Le Monde

Nathalie Guibert

Publié le 05 mars 2021 à 13h09 – Mis à jour le 07 mars 2021 à 07h02

Nathalie Guibert, Tiến sĩ Khoa học, Đại học Gestion, Pháp đăng trên Le Monde, Pháp

Văn Cường  dịch

15/3/2021

Với việc yêu sách chủ quyền ở Biển Đông, Bắc Kinh đã đặt cái gọi là quyền “lịch sử” lên trên các luật lệ quốc tế mà chính nước này đang mỗi ngày vi phạm nhiều hơn.

Tàu chiến của Hải quân Mỹ đi qua eo biển Đài Loan vào tháng 2 với sứ mệnh “tự do hàng hải”. Sau đó vài ngày thì hai tàu sân bay của Mỹ đã hoạt động của Biển Đông. 10 máy bay ném bom của Trung Quốc bám sát theo, trong một nhiệm vụ giả định chống tàu chiến. Trước khi Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc điều động 3 chiến khu trong đó có chiến khu Biển Bắc, chiến khu miền Đông và chiến khu Biển Nam vào cuộc tập trận toàn diện kéo dài 1 tháng.

Với hai cường quốc thì đây là thời gian phô trương sức mạnh, về phía Mỹ là đánh dấu nhiệm kỳ của Tổng thống Joe Biden. Tuy nhiên, cuộc chiến dường như vẫn chưa thực sự bắt đầu. Theo cách tiếp cận của Trung Quốc, thì cuộc cạnh tranh chủ yếu giữa hai cường quốc trong bối cảnh toàn cầu hóa là luật biển quốc tế.

Mỹ không ký Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển thông qua năm 1982 tại Montego Bay (Jamaica), trong khi đó ngày nay lại là nước bảo vệ các giá trị của luật biển một cách tích cực nhất. Còn Trung Quốc, mặc dù đã phê chuẩn Công ước nhưng mỗi ngày lại đang hủy hoại nó, với việc khẳng định chủ quyền trong vùng biển được vẽ tại “đường chín đoạn”, đường chữ U mà Trung Quốc đơn phương vẽ ra vào năm 1947 và bao trùm cả vùng biển của Đài Loan, Philippines, Brunei, Indonesia, Malaysia và Việt Nam.

Các nước ven biển này đều bị tấm bản đồ thiếu cơ sở pháp lý này xâm phạm vùng biển. Nó xâm lấn vào vùng lãnh hải, trong đó Bắc Kinh đang chiếm đóng một số đảo ở Trường Sa và các đảo ở Hoàng Sa mà các bên đang tranh chấp. Với việc tiến hành cuộc tập trận hải quân quy mô lớn từ ngày 1/3, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc đã tuyên bố: “Chúng tôi sẽ không để mất một tấc đất mà tổ tiên để lại”.

Để củng cố quyền lực đang lên của mình, đế chế Tập Cận Bình đã đi theo chủ nghĩa xét lại về luật biển quốc tế. Collin Koh, chuyên gia tại trường nghiên cứu quốc tế S. Rajaratnam ở Singapore giải thích rằng hành động hiện nay của Trung Quốc “là sự vi phạm nghiêm trọng nhất gần đây”. “Trung Quốc đang tìm cách phô trương sức mạnh quân sự của mình để buộc các nước ven Biển Đông từ bỏ quyền hợp pháp được Công ước 1982 bảo vệ, đó là khai thác các tài nguyên nằm trong vùng Đặc quyền kinh tế của mình”.

Như nhiều hiệp định đa phương khác, Công ước Luật biển 1982 liệu có đang chết yểu? Nó đang bị đe dọa, Pascal Ausseur, Giám đốc Quỹ Nghiên cứu Chiến lược Địa Trung Hải cho biết. “Biển từ lâu là “tài sản chung”, theo như nguyên tắc mà Grotius đưa ra vào thế kỷ 17, trước khi trở thành con đường giao thương hàng hóa của các cường quốc Châu Âu”, ông nhắc lại. Công ước 1982 là một sự thỏa hiệp cho việc sử dụng hợp lý các vùng biển các nước. Tuy nhiên, hiện tại, các cường quốc lục địa như Trung Quốc lại đòi hỏi nhiều hơn.”

Công ước đã tạo ra khái niệm “lãnh hải”, vùng biển rộng 12 hải lý tính từ bờ biển, mà trong đó các nước thực hiện chủ quyền của mình. Công ước Luật biển năm 1982 của Trung Quốc cũng đã đưa ra khái niệm vùng Đặc quyền kinh tế, với chiều rộng 200 hải lý mà trong đó các nước ven biển thực hiện quyền chủ quyền đối với các tài nguyên thiên nhiên của mình. Vùng Đặc quyền kinh tế được tạo ra với nguyên tắc “công bằng” đối với những nước tranh chấp vùng biển mà có bờ biển đối diện.

Tại những biển kín như Biển Địa Trung Hải, hay nửa kín như Biển Đông, cần có sự đàm phán về mặt chính trị. Nhiều thỏa thuận song phương và khu vực, hay các thỏa thuận về đánh bắt cá, đã được ký kết, góp phần hạn chế tối đa các hệ quả tiêu cực của việc các nước ven biển khai thác quá mức các nguồn tài nguyên như cá và khí đốt.

Các đảo tranh chấp

Luật quốc tế định nghĩa thế nào là đảo, mở ra khái niệm về chủ quyền trên biển. Điều này củng cố quan điểm của các quốc gia quần đảo như Indonesia hay Kiribati, trước khi Trung Quốc diễn giải lại. Công ước năm 1982 định nghĩa chủ quyền trên biển “Chủ quyền này được mở rộng đến vùng trời trên lãnh hải, cũng như đến đáy và lòng đất của biển này”. Các quy định được đưa ra về việc qua lại trong vùng lãnh hải của nước ven biển, như quy định về “qua lại vô hại”: là sự di chuyển tự do, không gây ô nhiễm, không đánh bắt cá và thu thập thông tin. Các tàu quân sự cũng hưởng quyền được qua lại vô hại tương tự, nếu như các tàu chiến này dừng hoạt động của mình (ví dụ như không triển khai trực thăng). Tàu ngầm phải nổi khi đi qua lãnh hải.

Trung Quốc không phủ nhận giá trị của Công ước Luật biển. Nhưng nước này lại làm méo mó mọi quy tắc của nó, với danh nghĩa “quyền lịch sử” mà không có bất kỳ cơ sở pháp lý nào, Bắc Kinh cho lưu hành công hàm tại Liên hợp quốc vào năm 2009, trong đó yêu sách vùng biển rộng 2 triệu km2, bao gồm cả các đảo. Các hoạt động cải tạo đầu tiên được bắt đầu vào năm 1988 tại đá Gạc Ma, thuộc quần đảo Trường Sa. Bắc Kinh đẩy nhanh quá trình cải tạo các đảo tranh chấp ở Biển Đông vào những năm 2010 và xây dựng các tiền đồn quân sự trên đó.

Kể từ đó, Trung Quốc không ngừng củng cố hiện trạng mới, gia tăng va chạm với các tàu qua lại gần bờ. Trung Quốc cũng không đoái hoài đến Phán quyết của Tòa trọng tài năm 2016, theo đó “đường chín đoạn” không có bất cứ “cơ sở pháp lý” nào và cũng không chứng minh được sự mở rộng của vùng Đặc quyền kinh tế của Trung Quốc. Phần thắng đã nghiêng về Manila, các quyền cho nước này đã được làm sáng tỏ sau khi lực lượng hải cảnh Trung Quốc đã ngăn cản ngư dân Phi-líp-pin tiếp cận bãi cạn Scarborough, thuộc quần đảo Trường Sa vào tháng 1/2013.

“Lập luận của Trung Quốc rất mơ hồ”, Christophe Prazuck, Giám đốc Viện Nghiên cứu Đại dương Trường Đại học Sorbonne, từng là Tư lệnh Hải quân Pháp giải thích. Trung Quốc không đưa ra giải thích về quy chế vùng nước nằm trong “đường chín đoạn”, cũng như vùng Đặc quyền kinh tế và lãnh hải của Trung Quốc. Bởi vì làm như thế có nghĩa là Trung Quốc nhượng bộ các nước trong khu vực. Họ chỉ đợi thời cơ đến và hành động.”

Năm 1982, tại Montego Bay, cộng đồng quốc tế đã đạt được thỏa hiệp lịch sử sau 9 năm đàm phán. Phải hơn 12 năm sau đó thì Công ước mới có hiệu lực nhưng người ta cũng đã thỏa hiệp nguyên tắc tự do hàng hải và nhu cầu kiểm soát biển cả. Từ những năm 1980, Trung Quốc đã tuyên bố lãnh hải có chiều rộng 200 hải lý, “trong khi đó Mỹ chỉ yêu sách lãnh hải rộng 3 hải lý”, ông Ausseur nhắc lại. Ronald Reagan cho biết lãnh hải không phải là đối tượng yêu sách của ông. Ông ta không cần luật biển, cũng như biên giới các đại dương, ông ta chỉ cần tự do hàng hải.”

“Trong vùng Đặc quyền kinh tế, mỗi nước đều làm chủ nguồn cá của mình. Chỉ có thế thôi”, Eric Frécon, nghiên cứu tại Trường Hải quân Pháp và Viện Nghiên cứu Đông Nam Á đương đại của Băng Cốc. Đó không phải là vấn đề về chủ quyền. Đó là vấn đề về quyền chủ quyền, nước bên cạnh không phải xin phép về việc đặt dây cáp hay cho tàu hải cảnh qua lại. Chúng ta đang đứng giữa cái gọi là “được nhưng….”.

Những quy định này ngày nay gây tranh cãi do sự gia tăng của chủ nghĩa dân túy. Vào tháng 8/2020, lần đầu tiên, Anh, Pháp và Đức đã cùng gửi công hàm chỉ trích việc Bắc Kinh không tôn trọng Công ước tại Biển Đông. Một hành động gây áp lực hiếm thấy, mặc dù không gây ra hệ quả trực tiếp. Theo ba nước Châu Âu, Trung Quốc không thể dùng việc xây đảo nhân tạo ở Trường Sa và Hoàng Sa để thay đổi các quyền đối với vùng biển của mình. “Nếu như chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc, quyền và các lợi ích ở Biển Đông được thiết lập trong suốt quá trình lịch sử”, Trung Quốc tìm cách lập luận.

Pháp là một trong những nước bảo vệ Công ước 1982 tích cực nhất. Với các quy định của Công ước và với các lãnh thổ hải ngoại, Pháp đã trở thành cường quốc biển thứ 2 trên thế giới, với vùng Đặc quyền kinh tế rộng 10,2 triệu km2, chỉ sau Mỹ (rộng 12,2 triệu km2). Paris cũng đã khai thác các quyền của mình tại thềm lục địa: để mở rộng thềm lục địa, 25 triệu Euro đã được chi cho các chiến dịch nghiên cứu khoa học từ năm 2003. Cho đến nay, 730.000 km2 mở rộng đã được luật quốc tế công nhận và 500.000 km2 khác đang được Liên Hợp Quốc xem xét.

Trung Quốc đã tỏ ra cứng rắn với Paris thời gian gần đây. Tờ China Daily ngày 22/2 đã đưa tin “Quân đội Pháp không có chỗ ở Biển Đông”. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Florence Parly, đã tuyên bố trong thông cáo về sự hiện diện của tàu ngầm tấn công của Hải quân Pháp trong khu vực. “Bảo vệ “tự do hàng hải” chỉ là một cái cớ dối trá, bắt nguồn từ việc Mỹ coi Trung Quốc là một đối thủ chiến lược”, bài báo đã đưa ra chỉ trích, hàm ý rằng Pháp quá nghiêng về Washington. Tháng 4/2019, tàu chiến Pháp Vendemiaire đi qua eo biển Đài Loan, lần đầu tiên, đã tạo ra phản ứng mạnh mẽ từ Bắc Kinh với cáo buộc tàu Pháp xâm phạm “lãnh hải Trung Quốc”.

Các vụ chạm trán xảy ra

Ông Prazuck lo ngại: “Vấn đề không phải ở chỗ có khác biệt, vì việc mỗi bên đều muốn hưởng lợi từ luật biển. Vấn đề là do người ta không tìm được thỏa hiệp”. Trong cuộc cạnh tranh ở Biển Đông, Mỹ và Trung Quốc tham gia vào một cuộc đối thoại ngầm, chuyên gia Koh giải thích. Việc “quân sự hóa” Biển Đông mà Mỹ cáo buộc, đối với chế độ của Tập Cận Bình lại là sự “bảo vệ hợp pháp”. Vùng Đặc quyền kinh tế không còn chỉ là “đặc quyền kinh tế” với Bắc Kinh nữa mà là “vùng an toàn”. Điều này giới hạn việc thực hiện tự do hàng hải của các tàu dân sự mà Washington thúc đẩy.

Vì sao lại ra cơ sự này? “Người Trung Quốc đã có giấy thông hành” mà ngày nay thế giới đang phải trả giá đắt, theo chuyên gia Koh. Ông nói thêm rằng khi Trung Quốc bắt đầu xây dựng đảo nhân tạo ởbd, thì “không ai làm gì để ngăn cản họ. Điều này đã khiến lợi thế nghiêng về họ và Trung Quốc có thể lên tiếng rằng chính Mỹ, với việc cử tàu chiến qua lại, đã khiến Trung Quốc phải tiến hành quân sự hóa trong khu vực”. Do đó, trước việc tàu chiến qua lại, như luật quốc tế cho phép, Bắc Kinh đã gây ra các vụ va chạm, vi phạm chính luật quốc tế.

Trung Quốc không phải là nước duy nhất làm méo mó các giá trị của Công ước Luật biển 1982 từ khi văn bản này có hiệu lực vào năm 1994. Trong “Báo cáo thường niên về sự tự do hàng hải”, Bộ Quốc phòng Mỹ đã thống kê, chỉ riêng trong năm 2019, đã có khoảng 40 “yêu sách biển quá mức” từ 20 nước, trong đó có Brasil, Ecuador, Iran, Maldives, Oman, Thổ Nhĩ Kỳ, Rumani, Tunisi.

Thổ Nhĩ Kỳ, nước không tham gia ký Công ước, từ nhiều năm nay đã phá vỡ những cân bằng đạt được ở Địa Trung Hải khi đưa ra các yêu sách xung quanh đảo Chypre và ngoài khơi Lybia. Việc phát hiện ra khí đốt và hướng chú ý dư luận ra bên ngoài của Tổng thống Recep Tayyip Erdogan, nhằm phục vụ chiến dịch tranh cử, đã đẩy Ankara vào tranh chấp chủ quyền đối với các hòn đảo mà Hy Lạp được hưởng theo Công ước. “Ông Erdogan muốn đàm phán về vùng Đặc quyền kinh tế để vô hiệu hóa hiệu lực của quần đảo Dodecanese”, ông Ausseur cho biết.

Địa Trung Hải là vùng biển khó thiết lập vùng Đặc quyền kinh tế, vì sẽ gây ra sự chồng lấn. Hy Lạp đã không yêu sách lãnh hải 12 hải lý để tránh xung đột với nước khác. “Nếu Athene làm việc đó ngay ngày mai, vùng biển Aegea có thể sẽ thuộc về Hy Lạp 60% và việc các tàu Thổ Nhĩ Kỳ qua lại sẽ thuộc về trường hợp qua lại vô hại”. Ông Prazuck nhấn mạnh.

Tuy nhiên, Thỏa thuận song phương về biển mà Thổ Nhĩ Kỳ đã ký với Lybia vào cuối năm 2019 nhằm vạch ra một đường biên giới mới lại không hề tính đến các quyền kinh tế của Hy Lạp. Và vùng Đặc quyền kinh tế mà Thổ Nhĩ Kỳ đòi hỏi ở phía Bắc Síp (mà nước này đang chiếm đóng) tạo thành hình con ốc sên bò quanh đảo đến phía Nam, lãnh thổ của Hy Lạp và điều này đơn giản là sự lấn chiếm.

Nếu như các ý đồ của Trung Quốc khiến cho các nước khác đều tỏ ra quan ngại, đó là bởi vì một “sự bình thường hóa” mới, đầy dối trá, đang được thiết lập ở Biển Đông. Tổ chức Sáng kiến Minh bạch Hàng hải (AMTI) đã ghi nhận, trong đại dịch Covid-19, cuối năm 2020, tần suất hoạt động tuần tra của Trung Quốc đã tăng lên. Xung quanh bãi cạn Scarborough, bãi Cỏ May, Luconia và bãi Tư Chính, các tàu Trung Quốc đã nhiều lần tắt thiết bị định vị. Thống kê cho thấy các vụ đụng độ thường xuyên xảy ra giữa tàu Trung Quốc và tàu Việt Nam đang tiến hành các hoạt động khai thác dầu và khí đốt.

Ấy vậy mà, các nước ven Biển Đông “lại không thường xuyên điều tàu hải cảnh và tàu quân sự giám sát các hoạt động này của Trung Quốc”, AMTI nhận định. Điều này cho thấy rằng Trung Quốc đang bình thường hóa một cách thành công sự hiện diện của mình”.

Lực lượng hải cảnh được trang bị vũ khí

Các đội tàu cá dân binh do Bắc Kinh sử dụng, kết hợp với lực lượng hải cảnh, tạo nên hiệu ứng răn đe các nước. Các lực lượng này tạo ra “vùng xám” của Trung Quốc. Để thực hiện chiến lược của mình, Trung Quốc vừa mới tăng cường sức mạnh cho lực lượng hải cảnh: Luật Hải cảnh có hiệu lực từ ngày 1/2 cho phép trang bị vũ khí cho lực lượng hải cảnh, kể cả vũ khí hạng nặng và biến các tàu dân sự này thành tàu quân sự.

Điều 30 của Công ước Luật biển 1982 đã nêu về nguy cơ leo thang căng thẳng: “Nếu một tàu chiến không tôn trọng các luật và quy định của quốc gia ven biển có liên quan đến việc đi qua trong lãnh hải và bất chấp yêu cầu phải tuân thủ các luật và quy định đó đã được thông báo cho họ, thì quốc gia ven biển có thể yêu cầu chiếc tàu đó rời khỏi lãnh hải ngay lập tức”. Các tàu có thể ngụy trang thành tàu cá để thu thập thông tin trong vùng Đặc quyền kinh tế. Hơn nữa, Công ước cũng không đưa ra quy định về thiết bị lặn không người lái, như thiết bị lặn mà Trung Quốc thường gửi tới Ấn Độ Dương để đo đạc địa hình dưới biển, gây ảnh hưởng đến các nước láng giềng. “Mỹ đã gây tranh cãi về tính hợp pháp của các hoạt động trong vùng Đặc quyền kinh tế với các nước Brasil, Malaysia, Trung Quốc”, ông Frécon từ Băng Cốc ghi nhận. Vào năm 2009, tàu do thám Impeccable của Mỹ, không trang bị vũ khí, đã bị tàu cá Trung Quốc chặn lại trước một căn cứ tàu ngầm ở Hải Nam khi đang hoạt động ở Biển Đông.

Việc đánh bắt cá trái phép, đang ngày càng gia tăng, khiến căng thẳng leo thang, khi mà Bắc Kinh cử hàng trăm tàu cá đến khai thác đến mức cạn kiệt nguồn tài nguyên cá tại vùng biển ngoài khơi các nước, từ Chile, qua Senegal đến Oman.

“Vấn đề chính là do các nước không đủ khả năng giám sát vùng biển của mình”, ông Koh nhấn mạnh. “Cái nào không được kiểm soát thì sẽ bị ăn trộm và những cái không bị ăn trộm thì sẽ gây tranh chấp”, ông Prazuck cho biết. Việc làm của Trung Quốc cho thấy các hoạt động kinh tế là bước đầu tiên của việc xâm lấn về chủ quyền”. Mọi việc trở nên phức tạp hơn khi Trung Quốc đặt ra các tham vọng toàn cầu, nhấn mạnh về khái niệm “lợi ích phát triển”. “Trung Quốc sẽ sớm xuất hiện ở các vùng biển khác ngoài Biển Đông và sẽ chạm trán với hải quân các nước khác như Mỹ”, ông Koh cảnh báo.

“Đã đến lúc nhận ra rằng Công ước không hoàn hảo”, Achin Vanaik, nhà hoạt động của Viện Nghiên cứu xuyên Quốc gia (Transnational Institute), một think-tank ở Amsterdam khẳng định. Trên kênh truyền thông xã hội online của Ấn Độ The Wire, ông đã viết rằng “những nước hưởng lợi nhiều từ việc thiết lập vùng Đặc quyền kinh tế là các nước có bờ biển rộng lớn như Nga, Úc và những quốc gia quần đảo như Indonesia, Ấn Độ nhưng những nước được hưởng lợi nhiều nhất phải kể đến Anh, Pháp, Mỹ – là những cường quốc thuộc địa vào thế kỷ 18, 19 và đầu thế kỷ 20”. Theo ông, việc thiết lập vùng Đặc quyền kinh tế đã tạo ra “một quá trình tư nhân hóa – quốc gia hóa nhằm hạn chế cái gọi là “tài sản chung của trái đất”. Ông lấy làm tiếc khi dựa vào Công ước, thì 36% vùng biển của thế giới đã không còn là “tài sản chung của nhân loại”.

Công ước 1982 vẫn còn giá trị, một quốc gia riêng lẻ không thể phá vỡ nó, Bộ Ngoại giao Pháp đã khẳng định điều này và việc tình hình an ninh biển ở Đông Nam Á trở nên xấu đi chỉ là một ngoại lệ. “Nguyên trạng” hiện tại không có nghĩa là chiến lược sự đã rồi của Trung Quốc đã đạt được mục đích của mình, khi mà các tàu thương mại và tàu chiến Mỹ, Pháp, Úc vẫn tiếp tục qua lại trong khu vực.

Một văn bản luật đủ linh hoạt

Luật biển vẫn tiếp tục phát triển. Khái niệm đảo tiếp tục được Tòa án công lý quốc tế củng cố. Vào năm 2016, phán quyết của Tòa Trọng tài đã đưa ra định nghĩa chặt chẽ về đảo, loại trừ các cấu trúc không phù hợp với đời sống thường xuyên của con người và được xây dựng nhân tạo. Một phán quyết mà Pháp cho rằng rất khắt khe, vì theo quan điểm của Pháp, các cấu trúc nổi như Bassas da India, tại kênh Mozambique, không có quy chế pháp lý đủ mạnh để có thể yêu sách vùng Đặc quyền kinh tế. Từ mà các nhà lãnh đạo của Pháp hay dùng đến là “sự cảnh giác” đối với tính hiệu lực của một vài quyền mà Công ước mang lại. Một vài quyền trong số đó phát sinh từ các lãnh thổ mà còn tồn tại tranh chấp. Đó là trường hợp 280.000 km vuông vùng Đặc quyền kinh tế của đảo Tromelin, mà Mauritius yêu sách.

Giải pháp mà Ấn Độ và Bangladesh tìm ra cho tranh chấp biển của họ vào năm 2014 đã cho thấy luật quốc tế tiếp tục phát triển. “Đó là một trong những minh chứng điển hình nhất cho thấy một nước mạnh hơn có thể đối thoại với nước yếu và chấp nhận phán quyết của Tòa án dưới sự bảo trợ của Công ước”, ông Koh đưa ra ví dụ. Sức mạnh không có nghĩa là luật. Một số nước Đông Nam Á khác cũng đã mang tranh chấp ra Tòa quốc tế: như trường hợp của Malaysia và Singapo đối với đảo Pedra Branca/Pulau Batu vào năm 2008; hay Malaysia và Indonesia tranh chấp đảo Ligitan và Sipadan vào năm 2002.

Sự linh hoạt mà Công ước 1982 mang lại để giải quyết các xung đột chính trị cho thấy sức mạnh của nó. “Rõ ràng là không có ranh giới rạch ròi trên biển, mà cái gọi là làn ranh đỏ tồn tại”, ông Frécon nhấn mạnh. Đó là sự mờ dần của chủ quyền, mà trong đó các nước có thể dùng đến mọi biện pháp để giữ thể diện của mình, từ các chuyến thăm ngoại giao cho đến việc quân sự hóa.

Tuy nhiên, Công ước cũng cần được cập nhật lại, đặc biệt là tính đến các thiết bị ngầm dưới biển. Nó cũng cần được hoàn thiện để đáp ứng việc bảo vệ biển cả. Việc phát triển công nghệ thăm dò và tác động của kinh tế cũng làm thay đổi cuộc chơi. “Gìn giữ đa dạng sinh thái trở thành một trong những yếu tố quan trọng chính đáng cần phải tính đến trong đàm phán”, ông Prazuck cho biết. Bị ảnh hưởng trực tiếp bởi tham vọng của Trung Quốc, việc gìn giữ các nguồn tài nguyên ngày càng có một giá trị địa chính trị quan trọng.

Văn Cường (gt)

http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-nuoc-ngoai/7690-trung-quoc-tan-cong-luat-tbien

Điểm tin thế giới ngày Thứ bảy 13 tháng 3 năm 2021 – Võ Thái Hà tóm lược

Saturday, March 13th, 2021

Hội nghị thượng đỉnh nhóm họp qua mạng hôm thứ Sáu, 12/3/2021, do Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden chủ trì

Chụp lại hình ảnh,

Covid: Mỹ và các đồng minh hứa một tỷ liều vaccine cho Đông Nam Á

Nguồn hình ảnh, EPA

Các nhà lãnh đạo của Mỹ, Úc, Ấn Độ và Nhật Bản đã đồng ý cung cấp một tỷ liều vaccine chống virus Corona cho phần lớn châu Á vào cuối năm 2022.

(more…)

Điểm tin thế giới ngày Thứ sáu 12 tháng 3 năm 2021 – Võ Thái Hà tóm lược

Friday, March 12th, 2021

Bà Aung San Suu Kyi (ảnh: Shutterstock).

By thoisu 02 , March 12, 2021

Myanmar: Luật sư của bà Suu Kyi chế nhạo cáo buộc hối lộ

Reuters đưa tin, các nhà hoạt động Myanmar cam kết sẽ tổ chức nhiều cuộc biểu tình và đình công hơn nữa vào thứ Sáu (12/3), một ngày sau khi một nhóm nhân quyền cho biết lực lượng an ninh đã làm chết 12 người biểu tình và khi luật sư của nhà lãnh đạo bị phế truất Aung San Suu Kyi đã chế nhạo các cáo buộc hối lộ chống lại thân chủ của mình.

(more…)

Ngô Nhân Dụng – Mỹ mở mặt trận kỹ thuật ngăn Trung Cộng

Sunday, March 7th, 2021

06/3/2021

Trong tháng Hai 2021, ông Jake Sullivan, cố vấn an ninh quốc gia mới nhậm chức ở Mỹ gọi cho đồng nghiệp Geoffrey van Leeuwen trong chính phủ Hòa Lan. Một vấn đề “an ninh” họ nói với nhau là SMIC, công ty sản xuất chất bán dẫn (semiconductor) lớn nhất của Trung Quốc,.

(more…)

Điểm tin thế giới thứ Bảy 6 tháng 3, 2021 (Võ Thái Hà tóm lược)

Saturday, March 6th, 2021

[EDE id=”4288″]

Mỹ sẽ khai triển hỏa tiễn chống Trung Quốc dọc theo chuỗi đảo thứ nhất

Friday, March 5th, 2021

Nguồn: “US to build anti-China missile network along first island chain”, Nikkei Asia, 05/03/2021.

Biên dịch: Phan Nguyên

Mỹ sẽ tăng cường khả năng răn đe bằng vũ khí thông thường chống lại Trung Quốc bằng cách thiết lập một mạng lưới tên lửa tấn công chính xác dọc theo cái gọi là “chuỗi đảo thứ nhất” như một phần của khoản chi 27,4 tỷ USD sẽ được xem xét cho chiến trường Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương trong sáu năm tới.

(more…)

Lại phá sản – Bắc Kinh thừa nhận rủi ro khó kiểm soát bong bóng giá bất động sản

Thursday, March 4th, 2021
Lại vỡ nợ lớn - Bắc Kinh thừa nhận rủi ro khó kiểm soát bong bóng giá bất động sản

Tổng bí thư ĐCSTQ Tập Cận Bình (FRED DUFOUR/AFP/Getty Images)

Lê Minh – Hữu Nguyên  • 15:03, 04/03/21• 

Vụ vỡ nợ 530 triệu USD của nhà phát triển bất Ä‘á»™ng sản Trung Quốc đánh dấu thá»­ thách má»›i nhất vá»›i bong bóng bất Ä‘á»™ng sản năm 2021, đánh dấu khởi đầu cho các vụ vỡ nợ, được dá»± báo là sẽ ká»· lục của năm 2021. 

(more…)

Cựu Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ: Trung Cộng có thể tấn công Đài Loan vào năm tới

Thursday, March 4th, 2021
Ảnh chụp màn hình Youtube/VisualPolitik EN

Vũ Dương | DKN 

Cựu Cố vấn An ninh Quốc gia Tòa Bạch Ốc Herbert Raymond McMaster (H.R.McMaster) hôm thứ Ba (ngày 2/3) đã đưa ra cảnh báo trong Ủy ban Quân vụ Thượng viện Hoa Kỳ rằng bắt đầu từ năm 2022, Đài Loan có thể rơi vào nguy cơ xung đột quân sự, theo Vision Times.

Trang Nikkei Shimbun cho hay, Ủy ban Quân vụ Thượng viện Hoa Kỳ gần đây đã tổ chức một cuộc điều trần. Các Thượng nghị sĩ lo ngại về việc liệu chính quyền Biden đã chuẩn bị sẵn kịch bản Trung Quốc xâm lược Đài Loan có thể xảy ra hay không. Cựu cố vấn an ninh quốc gia Tòa Bạch Ốc H.R.McMaster bày tỏ rằng Đài Loan là mục tiêu chiến lược lớn nhất của chính phủ Trung Quốc, cũng là ngòi nổ lớn nhất khiến khu vực châu Á – Thái Bình Dương rơi vào một cuộc chiến quy mô lớn.

(more…)

Điểm tin thế giới ngày Thứ ba 02 tháng 3 năm 2021 – Võ Thái Hà tóm lược

Tuesday, March 2nd, 2021

By thoisu 02 , March 2, 2021 

Trung Quốc bắt đầu cuộc tập trận kéo dài một tháng

Ngày 1/3/2021, Trung Quốc bắt đầu cuộc diễn tập kéo dài một tháng tại khu vực có bán kính khoảng 5km về phía tây bán đảo Lôi Châu nhằm xây dựng quân đội Trung Quốc đáp ứng các yêu cầu của chiến tranh hiện đại trong bối cảnh Mỹ và các nước tăng cường sự hiện diện ở Biển Đông. Thông báo phát đi bởi Cục An toàn Hàng hải Trung Quốc cảnh báo rằng các tàu khác không nên đi vào khu vực này trong tháng 3.

(more…)

Điểm tin thế giới ngày Thứ bảy 27 tháng 02 năm 2021 – Võ Thái Hà tóm lược

Sunday, February 28th, 2021

By thoisu 02 , February 28, 2021 0 Comments

Đại sứ Miến Điện tại Liên Hiệp Quốc lên án tập đoàn quân sự

Đại sứ Miến Điện tại Liên Hiệp Quốc Kyaw Moe Tun giơ ba ngón tay lên chào theo kiểu phong trào phản kháng ở Miến Điện, ngày 27/02/2021 ngay tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York (Hoa Kỳ). AP

(more…)

Về Trung Quốc Sử & Hoàng Sa Trường Sa – LS Nguyễn Hữu Thống (2014)

Saturday, February 27th, 2021

Posted on June 25, 2015 (CĐLBHK)

BÌNH GIẢI VỚI TẬP CẬN BÌNH VỀ TRUNG QUỐC SỬ LIÊN QUAN ĐẾN HOÀNG SA TRƯỜNG SA

Theo cuốn Lịch Sử Trung Quốc Thời Trung Cổ do Hàn Lâm Viện Trung Quốc xuất bản tại Đài Bắc năm 1978, trong bài “Nghiên Cứu về Lịch Sử và Địa Lý” học giả Hsieh Chiao-Min nhận định về cuộc Thám Hiểm của Trung Hoa tại Đại Dương như sau: “Suốt chiều dài lịch sử, về sự phát triển văn hóa và khoa học, dân tộc Trung Hoa không tha thiết đến đại dương. Thản hoặc nhà cầm quyền Trung Quốc cũng gửi những đoàn thám hiểm đại dương đến Nhật Bản trong các thế kỷ thứ 3 và thứ 2 Trước Công Nguyên, cũng như tại Đông Nam Á, Ấn Độ và Phi Châu trong thế kỷ 15. Điểm rõ nét nhất là tại Thái Bình Dương có rất ít, nếu không nói là không có, những vụ xâm nhập quy mô của Trung Quốc” suốt chiều dài lịch sử (từ nhà Tần thế kỷ thứ 3 Trước C. N. đến nhà Thanh từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 20). Chiao-Min Hsieh. Chinese History Middle Ages: China Academy, Taipei, 1978, p. 287).

Dưới đời nhà Tần, cuốn Tần Chí tường thuật rằng năm 211 Trước C.N. Tần Thủy Hoàng sai một phái bộ gồm hàng ngàn đồng nam đồng nữ (trai gái tân) đi kiếm những dược phẩm có tác dụng đem lại trường sinh bất tử cho nhà vua tại đảo Đại Châu Bất Tử trong Đông Trung Quốc Hải. Mặc dầu vậy, Tần Thủy Hoàng không bất tử mà đã chết một năm sau đó. Và chế độ quân phiệt nhà Tần đã cáo chung sau 15 năm thống trị (221-206 Trước C.N).

Trong thời Đế Quốc Thứ Nhất đời Tần Hán (First Empire), những cuộc thám hiểm đại dương tại Đông Trung Quốc Hải và Biển Nhật Bản không phải để chinh phục vùng Biển Nam Hoa nơi tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đặc biệt trong thế kỷ 15, từ đời Minh Thành Tổ (Vĩnh Lạc), Đô Đốc Thái Giám Trịnh Hòa đã 7 lần thám hiểm Tây Dương (Ấn Độ Dương). Và trong 28 năm, từ 1405 đến 1433, đã viếng thăm 37 quốc gia duyên hải đến Ba Tư, Biển Hồng Hải phía tây bắc, Đông Phi Châu phía cực tây và Đài Loan phía cực đông. Những cuộc thám hiểm này chỉ đi ngang qua Biển Nam Hoa nhằm khai phá Ấn Độ Dương. Lịch sử Trung Quốc cũng phê phán những cuộc thám hiểm đại dương đời nhà Minh vì đã làm kiệt quệ kinh tế đất nước. (The large exploring expeditions that were to cross the South China Sea and explore the Indian Ocean were criticized by the court as poor to (an impoverishment of) the country. Chiao-Min Hsieh, Ibid, p. 290-291).

Những tài liệu lịch sử nêu trên đã được phổ biến tại Đại Hội Quốc Tế về Sử Địa Trung Quốc Kỳ I tại Đài Bắc năm 1968 và đã được đăng trong cuốn Lịch Sử Trung Quốc Thời Trung Cổ năm 1978.

Như vậy theo chính sử Trung Quốc suốt từ thế kỷ thứ 3 Trước C.N. đến thế kỷ 15, dưới 3 triều đại Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế và Minh Thành Tổ không có tài liệu nào cho biết có các lực lượng hải quân Trung Quốc đi tuần thám để hành sử và công bố chủ quyền tại Biển Đông Hải, Biển Nam Hoa hay Biển Đông Nam Á.

Đối chiếu lịch sử Việt Nam và Trung Quốc, sử sách ghi chép rằng năm 214 Trước C.N., sau khi thống nhất Trung Hoa, Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư đem quân thôn tính các nước Bách Việt để chia thành 3 quận: Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây) và Tượng Quận (Bắc và Trung Việt). (Nước Việt ta thời đó có nhiều voi: Bà Trưng, Bà Triệu cưỡi voi khởi nghĩa đánh nhà Hán, nhà Ngô; Trần Hưng Đạo phá quân Nguyên, Quang Trung đuổi quân Thanh cũng ngồi trên mình voi đánh giặc).

Tuy nhiên các dân tộc Bách Việt không chịu ách đô hộ tàn bạo của nhà Tần. Họ trốn vào rừng chiến đấu và giết được Đồ Thư.

Năm 207 Trước C. N. Triệu Đà đánh thắng An Dương Vương, rồi sát nhập Âu Lạc vào quận Nam Hải để thành lập một quốc gia độc lập đóng đô tại Phiên Ngung (Quảng Châu) lấy quốc hiệu là Nam Việt (207-111 Trước C.N.). Qua năm sau Lưu Bang cũng đánh thắng Hạng Võ và thành lập nhà Hán.

Chữ “hải” trong quận Nam Hải không có nghĩa là biển mà là vùng đất xa xôi (hải biểu là vùng đất cực xa). Và quận Nam Hải là vùng đất phía cực Nam Trung Quốc (far-south). Từ nguyên thủy, Biển Nam Hải có tên là Trướng Hải là vùng biển của tỉnh Quảng Đông, cách huyện Hải Phong 50 dậm ta (lý) về phía nam (khoảng 25km).

Theo Tân Từ Điển Thực Dụng Hán Anh xuất bản tại Hồng Kông năm 1971 “Biển Nam Hải là vùng biển ven bờ chạy từ Eo Biển Đài Loan tới Quảng Đông” (The Southern Sea stretches from the Taiwan Strait to Kwantung. A New Practical Chinese-English Dictionary, Hongkong 1971, p. 121)

Theo Từ Điển Từ Hải xuất bản năm 1948 thì “Biển Nam Hoa thuộc chủ quyền chung của 5 quốc gia là Trung Hoa, Pháp (Việt Nam), Anh (Mã Lai), Mỹ (Phi Luật Tân) và Nhật ( Đài Loan). Do đó Biển Nam Hải (Southern Sea) không phải là Biển Nam Hoa (South China Sea).

Sau này Trung Quốc lợi dụng danh xưng để mạo nhận rằng Biển Nam Hải của tỉnh Quảng Đông chính là Biển Nam Hoa của Trung Quốc.

Từ thế kỷ 15, các nhà thám hiểm đại dương và các nhà doanh thương Âu, Á như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hòa Lan, Anh, Pháp, Ả Rập khi vượt Đại Tây Dương đến vùng biển tiếp giáp Ấn Độ, muốn cho tiện họ gọi vùng biển này là Ấn Độ Dương. Và khi qua Eo Biển Mã Lai đến vùng biển tiếp giáp Trung Hoa họ cũng tiện thể gọi vùng biển này là Biển Nam Hoa (ngoại nhân xưng Nam Trung Quốc Hải).

Sự trùng điệp danh xưng này của các nhà địa lý Tây Phương chỉ là sự ghi nhận một tập quán về ngôn ngữ hàng hải. Như vậy tên Biển Nam Hoa cũng như Ấn Độ Dương không có tác dụng công nhận chủ quyền của Trung Hoa và Ấn Độ tại các vùng biển này. Nó chỉ ghi nhận vị trí của Ấn Độ Dương là vùng tiếp giáp Ấn Độ, cũng như Biển Nam Hoa là vùng tiếp giáp miền Nam Trung Hoa. Vả lại, về diện tích, Biển Nam Hải (hay Biển Nam) chỉ rộng chừng 25km, trong khi Biển Nam Hoa chạy từ bờ biển Quảng Đông tới bờ biển Nam Dương và rộng tới 2000 km.

Trong những chuyến hải hành Trịnh Hòa chỉ dừng chân tại hải cảng Chaban (Trà Bàn hay Đồ Bàn) thủ phủ Chiêm Thành. Theo Giáo Sư John King Fairbank tại Đại Học Harvard, mục đích những chuyến công du này không phải để cướp bóc hay thôn tính lãnh thổ mà chỉ nhằm thiết lập bang giao với hàng chục quốc gia duyên hải tại Ấn Độ Dương. (The Chinese expeditions were diplomatic not commercial, much less piratical or colonizing ventures. John King Fairbank, China, a New History, Harvard University Press 1992, p. 138).

Như vậy, theo chính sử Trung Quốc, từ các đời Tần Hán,Tam Quốc, Lưỡng Tấn, Nam Bắc Triều, Tùy Đường, Ngũ Đại, Tống Nguyên, Minh Thanh, sử sách không ghi chép việc hải quân Trung Quốc đi tuần thám Biển Đông Hải để chiếm hữu các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đồng thời công bố và hành sử chủ quyền tại các quần đảo này.

Suốt chiều dài lịch sử Trung Quốc trong hơn 20 thế kỷ về đời các Đế Quốc Tần Hán, Tùy Đường, Tống Nguyên, Minh Thanh cũng như trong các thời Đại Phân Hóa như đời Lưỡng Tấn, trở ngại chính yếu cho việc ổn định chính trị và phát triển kinh tế là hiểm họa Hung Nô.

Danh xưng Hung Nô tự nó đã hàm chứa ý nghĩa nhục mạ và phỉ báng, man di mọi rợ, dã man hung dữ chỉ đáng làm nô lệ cho Hán tộc.

Không phải bao giờ Hán binh cũng thắng thế. Vì các kỵ binh Hung Nô là những thiện xạ có tài bắn cun từ trên lưng ngựa huyết hãn mã (mồ hôi đỏ như máu).

Đời nhà Hán hiểm họa Hung Nô là mối lo gan ruột của Hán Vũ Đế 5 lần mang quân đi chinh chiến tại các mặt trận tây bắc. Các phong hỏa đài dọc theo Vạn Lý Trường Thành là những trại tiếp liên báo động tại quan ải:

Gió lửa động sa mạc
Chiếu rực mây Cam Tuyền
Vua Hán chống kiếm dậy
Lại vời Lý Tướng Quân.
(Lý Bạch, Tái Hạ Khúc)

Lý Tướng Quân ở đây là Lý Quảng, vị tướng lãnh nổi tiếng nhất trong Chiến Tranh Hung Hán. Nhưng không phải bao giờ ông cũng đem lại chiến thắng cho Hán Vũ Đế (140-87 Trước C.N.). Năm 119 Trước C. N. Lý Quảng ở tuổi lục tuần, vì trái quân lệnh đã thất trận và phải tự sát để khỏi bị xử trảm với nhục hình. Như vậy tướng quân họ Lý không đem lại vinh quang cho nhà Hán.

Năm 100 Trước C. N. Hán Vũ Đế sai sứ giả Tô Vũ qua Hung Nô để can thiệp vào chính sự một nước lân bang phía bắc. Cơ mưu bại lộ, Tô Vũ bị bắt giam và quản thúc trong 19 năm, phải chịu nhục đi chăn dê tại vùng sa mạc nóng cháy và miền núi tuyết giá băng.

Và năm 33 Trước C. N., Hán Nguyên Đế phải đem Chiêu Quân cống Hồ, dầu rằng Vương Tường là một trong bốn đại mỹ nhân Trung Quốc, cùng với Tây Thi, Hằng Nga và Dương Quý Phi. Trong năm này Hán Nguyên Đế đã từ trần vài tháng sau khi Chiêu Quân xuất giá.

Đến đời Nhà Tấn (265-420) có loạn Nhung Địch từ phía tây bắc lũ lượt nổi lên chiếm giữ cả vùng Bắc Trường Giang để xưng vương, xưng đế tại 16 nước gọi là loạn Ngũ Hồ. Sau 50 năm trị vì tại miền tây bắc, nhà Tấn phải lui về phía đông nam để dựng nghiệp Đông Tấn tại Nam Kinh.

Kế tiếp là đời Đế Quốc Tùy Đường. Đây là thời thịnh trị cả về kinh doanh thương mại lẫn văn học nghệ thuật. Tuy nhiên trong giai đoạn thoái trào vào thế kỷ thứ 8 có loạn An Lộc Sơn với các binh sĩ Ngũ Hồ từ miền bắc xâm chiếm thủ đô Tràng An. Trên đường rút quân về Tây Thục, dưới áp lực của các tướng sĩ, Đường Minh Hoàng phải bức tử Dương Quý Phi tại Mã Ngôi.

Sau đời Đế Quốc Tùy Đường là Đế Quốc Lưỡng Tống kéo dài hơn 300 năm từ thế kỷ thứ 10 tới thế kỷ 13 (960-1280). Qua thế kỷ 12 nhà Tống bị bao vây bởi Bắc Liêu (Mông Cổ) về phía bắc và Tây Hạ (Mãn Châu) về phía tây. Từ đầu thế kỷ 11 vua nhà Tống phải hàng năm triều cống Bắc Liêu 10 vạn lạng bạc và 20 vạn tấm lụa. Tới đầu thế kỷ 12 (năm 1127) nước Kim (Mãn Châu) lấn chiếm toàn cõi Bắc Trung Hoa khiến Vua Tống phải bỏ miền Bắc dời đô về Hàng Châu (Chiết Giang) gọi là Nam Tống. Đây là một thời đại suy vi với sự phân hóa lãnh thổ, suy thoái kinh tế và thất bại quân sự (Nhà Tống bị Việt Nam đánh bại 3 lần trong những năm 981, 1075 và 1076).

Cũng vì vậy trong hai thế kỷ 13 và 14, Trung Quốc bị Hung Nô Mông Cổ thôn tính trong gần 90 năm (1280-1368). Đó là kỷ nguyên của Đế Quốc Đại Nguyên hay Đế Quốc Nguyên Mông.

Và để kết thúc giai đoạn lịch sử Trung Quốc thời Trung Cổ, trong ba thế kỷ từ 17 đến 20 (1644-1911) đời Đế Quốc Đại Thanh, Hung Nô Mãn Châu làm chủ Trung Quốc.

Để có cái nhìn khách quan trung thực, chúng ta hãy kiểm điểm khái quát những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị của các triều đại Trung Hoa từ đời nhà Tần đến đời nhà Thanh. Từ đó chúng ta có thể nhận định rằng Trung Quốc không có điều kiện khách quan và chủ quan để thôn tính Biển Đông Hải và giành giật chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Từ Đế Quốc Tần Hán đến Đế Quốc Đại Thanh

Năm 221 Trước C.N., Nhà Tần thống nhất đất nước, tập trung quyền lực trong chế độ độc tài quân phiệt, bãi bỏ chính sách phân chia ruộng đất (tỉnh điền) và chế độ tư tưởng phóng khoáng thời Bách Gia Chư Tử. Mặt khác huy động toàn dân vào việc xây đắp trường thành chống Hung Nô và xây dựng cung điện nguy nga như Cung A Phòng với những hy sinh khủng khiếp: 1 triệu viên đá xây thành là 1 triệu người dân hy sinh thân sống. Lịch sử Trung Hoa kết án Tần Thủy Hoàng là một bạo chúa đã từ bỏ quan niệm hòa bình nhân ái của Khổng Mạnh lấy dân làm trọng, và coi nhẹ chính quyền (dân vi quý, quân vi khinh). Vì quá lao tâm lao lực, Tần Thủy Hoàng chỉ trị vì được 11 năm. Từ đó với những âm mưu tranh giành quyền lực, cà thái tử lẫn tể tướng đã phải hoặc tự sát, hoặc bị giết. Vua Tần Nhị Thế cũng bị một viên quan hoạn giết sau 4 năm trị vì. Dân 6 nước bị nhà Tần sát hại thời Chiến Quốc cùng những dân công khổ sai đã vùng đứng lên tiêu diệt chế độ nhà Tần năm 206 Trước C.N.

Lúc này tại miền Hoa Nam, hải quân Trung Quốc không lai vãng đến vùng Biển Đông Hải.

Kế nghiệp Nhà Tần là Nhà Hán kéo dài hơn 4 thế kỷ (từ 206 trước C. N. đến 220 Tây Lịch) trong đó có 14 năm Vương Mãng tiếm vị.

Trong cuộc Hán Sở tranh hùng, Hán Vương Lưu Bang thắng Sở Vương Hạng Võ. Họ Lưu khởi nghiệp từ miền Hán Giang (một chi nhánh của Dương Tử Giang) đã trừ được nhà Tần, diệt được nhà Sở và thống nhất Trung Hoa lên ngôi lấy hiệu là Hán Cao Tổ (206-195 trước C. N).

Trước đó một năm, năm 207 Trước C. N., Triệu Đà cũng đã lên ngôi hiệu là Triệu Vũ Vương sau khi đánh thắng An Dương Vương và sát nhập Âu Lạc với quận Nam Hải để thành lập nước Nam Việt độc lập, đặt thủ đô tại Phiên Ngung (Quảng Châu).

Trong khi tại miền Bắc Hán Cao Tổ chỉ trị vì được 11 năm, thì tại miền Nam Triệu Vũ Vương đã chấn chỉnh và mở rộng bờ cõi trong suốt 70 năm (207-137 Trước C. N.). Năm 196 Trước C. N. Hán Cao Tổ sai Lục Giả sang phong tước cho Triệu Vũ Vương.

Sau khi Hán Cao Tổ mất bà Lữ Hậu lâm triều lộng hành không cho người Việt mua các đồ sắt, điền khí và trâu bò nái. Triệu Vũ Vương xưng là Nam Việt Hoàng Đế (Triệu Vũ Đế) rồi cử binh đánh bại quân nhà Hán tại Trường Sa (Hồ Nam). Sau khi Lữ Hậu mất Hán Văn Đế lại sai Lục Giả sang thương thuyết, yêu cầu Triệu Vũ Đế bỏ đế hiệu. Hán Văn Đế cam kết rằng: “Tại miền Hồ Quảng, từ phía nam Ngũ Lĩnh và Động Đình Hồ, Triệu Vũ Vương được toàn quyền cai trị”.

Đến năm 111 Trước C. N., khai thác mâu thuẫn giữa ba nước Mân Việt, Đông Việt và Nam Việt, Hán Vũ Đế đã thôn tính Nam Việt trái với lời cam kết của các tổ phụ và tiên vương Hán Cao Tổ và Hán Văn Đế.

Tuy nhiên, sau cái chết của Hán Vũ Đế (năm 87 Trước C.N.), Nhà Hán bắt đầu suy thoái. Trong đời Hán Nguyên Đế (48-33 Trước C.N.), quân Nhà Hán đã phải rút khỏi Châu Nhai và Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam) cho đến cuối thế kỷ thứ 6 đời Lương, Tùy mới đặt lại nền cai trị. Nếu nhà Hán đã bỏ đảo Hải Nam thì cũng không lý vấn đến các đảo Hoàng Sa Trường Sa tại Đông Hải. (Hải Nam cách Hoàng Sa 150 hải lý hay 275 km)

Tiếp theo thời Đế Quốc Tần Hán là Thời Đại Phân Hóa Thứ Nhất (First Partition) với các đời Tam Quốc, Lưỡng Tấn và Nam Bắc Triều.

Thời Đại Phân Hóa Thứ Nhất

Trong đời Tam Quốc (220-265), với thế chân vạc Ngụy, Thục, Ngô, không nước nào dám mạo hiểm và có thực lực đi thôn tính biển Đông Hải. Thời Hán mạt Tào Tháo mượn lệnh Hán Đế đem 10 vạn quân (phóng đại là 80 vạn) đi xâm chiếm Đông Ngô và đã bị Chu Du và Gia Cát Lượng đánh tan trong trận Xích Bích năm 207.

Đến đời Nhà Tấn (265-420) có loạn Nhung Địch từ phía tây bắc lũ lượt nổi lên chiếm giữ cả vùng Bắc Trường Giang để xưng vương, xưng đế tại cả thảy 16 nước gọi là loạn Ngũ Hồ. Sau 50 năm trị vì tại miền tây bắc, nhà Tấn đã phải lui về phía đông nam để dựng nghiệp Đông Tấn tại Nam Kinh.

Sau khi nhà Tấn mất ngôi có nạn phân hóa Nam Bắc Triều với 7 nước là Ngụy, Tề, Chu phía bắc và Tống, Tề, Lương, Trần phía nam.

Do sự phân hóa này Trung Quốc không còn sinh khí. Đến đời nhà Lương, tại Giao Châu, Lý Bôn phất cờ khởi nghĩa xưng là Lý Nam Đế lấy quốc hiệu là Vạn Xuân. Sau đó Triệu Quang Phục và Lý Phật Tử kế nghiệp Nhà Tiền Lý trong gần 60 năm (từ năm 544 đến 602).

Thời Đế Quốc Tùy Đường

Kế tiếp đời Nam Bắc Triều, Nhà Tùy trị vì được 30 năm, và cùng với Nhà Đường khởi sự Thời Đế Quốc Thứ II (Second Empire). Đây là thời thịnh trị cả về kinh doanh thương mại lẫn văn học nghệ thuật. Đường Minh Hoàng làm thơ ca tụng Khổng Tử. Các đại sư Huyền Trang và Nghĩa Tĩnh sang Ấn Độ thỉnh kinh Phật. Các thi sĩ nổi tiếng đời Đường như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương Duy đã chịu ảnh hưởng sâu đậm của các tư tưởng Lão Trang, Khổng Mạnh và Phật Giáo.

Tuy nhiên trong giai đoạn thoái trào vào thế kỷ thứ 8 có loạn An Lộc Sơn với các binh sĩ Ngũ Hồ từ miền bắc xâm chiếm thủ đô Tràng An.

Sự suy đồi của Nhà Đường dẫn tới đời Ngũ Đại kéo dài hơn 50 năm với 5 triều đại đã có từ trước như các nhà Hậu Đường, Hậu Lương, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Chu. Vận dụng cơ hội lịch sử này Ngô Quyền kết tập binh mã phá tan quân Nam Hán năm 938 trong trận hải chiến Bạch Đằng Giang. Do đó, từ năm 939, Việt Nam được giải phóng khỏi nạn Bắc Thuộc một ngàn năm, mở đường cho kỷ nguyên độc lập với các nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê và Nguyễn, từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 19.

Thời Đế Quốc Lưỡng Tống

Trong thế kỷ thứ 10 quân Nhà Tống kéo sang xâm chiếm nước Nam. Để chống ngoại xâm các tướng sĩ tôn Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn lên làm vua. Và năm 981 Lê Đại Hành đánh thắng lục quân nhà Tống với Hầu Nhân Bảo và thủy quân với Lưu Trừng tại Bạch Đằng Giang.

Năm 1075, dưới đời vua Lý Nhân Tông, Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem quân vượt biên vây đánh Châu Khâm, Châu Liêm tại Quảng Đông và Châu Ung tại Quảng Tây. Qua năm sau nhà Tống đem quân sang báo thù. Nhưng một lần nữa lại bị Lý Thường Kiệt đánh bại trên sông Như Nguyệt hay Sông Cầu (Bắc Ninh).

Sau 3 lần dụng võ thất bại, do trình tấu của Hoàng Thân Triệu Nhữ Quát, vua Tống Thần Tông phải theo chính sách “Trọng Võ Ái Nhân” (thận trọng việc võ bị, thương xót mạng người, không phơi binh nơi lam chướng), và đã thừa nhận nền độc lập của Đại Việt.

Nhà Tống kéo dài từ thế kỷ thứ 10 tới thế kỷ 13 (960-1280). Qua thế kỷ 12 nhà Tống bị bao vây bởi Bắc Liêu và Tây Hạ. Ngay từ đầu thế kỷ 11 vua nhà Tống đã phải hàng năm triều cống Bắc Liêu 10 vạn lạng bạc và 20 vạn tấm lụa. Tới đầu thế kỷ 12 (năm 1127) nước Kim lấn chiếm toàn cõi phía bắc Trung Hoa khiến Vua Tống phải bỏ miền bắc thiên đô về Hàng Châu (Chiết Giang) gọi là Nam Tống. Đây là một thời đại suy vi kéo dài 150 năm. Với sự phân hóa lãnh thổ, suy thoái kinh tế, và nhất là sau 3 lần thất trận tại Việt Nam, Nhà Tống không còn dòm ngó đến Biển Đông Hải với Hoàng Sa và Trường Sa.

Thời Đế Quốc Nguyên Mông

Qua thế kỷ 13 Trung Quốc bị Mông Cổ thôn tính trong gần 90 năm (1280-1368). Trước đó trong chiến dịch Tây Tiến, Thành Cát Tư Hãn đã chiếm giữ vùng Trung Á 6 ngàn dặm đến Hung Gia Lợi và nước Nga tại Bắc Âu và Ba Tư tại Nam Á. Rồi quay về chiếm nước Tây Hạ, nước Kim và Triều Tiên. Trước đó, năm 1257 quân Mông Cổ đánh Vân Nam và tràn sang Việt Nam. Tuy nhiên, với quân dân một lòng, nhà Trần đã đánh tan quân Mông Cổ tại Đông Bộ Đầu. Đây là chiến thắng đầu tiên của Việt Nam đối với nhà Nguyên.

27 năm sau, năm 1284, con Nguyên Chủ Hốt Tất Liệt là Thoát Hoan kéo 50 vạn quân sang báo thù.

Trong Hội Nghị Diên Hồng các bô lão đồng thanh xin đánh. Dưới sự lãnh đạo của Trần Hưng Đạo, chỉ trong vòng 6 tháng, từ tháng 12-1284 đến tháng 6-1285, quân Đại Việt đã đánh đuổi quân Nguyên ra ngoài bờ cõi. Toa Đô bị bắn chết, Ô Mã Nhi bị đuổi quá gấp phải một mình lẻn xuống thuyền con chạy trốn, và Thoát Hoan phải chui ống đồng lên xe chạy thoát về Tầu.

Thời gian này Hốt Tất Liệt đã có kế hoạch thôn tính Quần Đảo Phù Tang. Nay quân Thoát Hoan đại bại kéo về, Nguyên Chủ phải đình chỉ kế hoạch Đông Tiến. Và hai năm sau, đầu năm 1287, Thoát Hoan lại tập trung lực lượng kéo 30 vạn quân sang Đại Việt để báo thù lần thứ hai.

Tuy nhiên, cũng như lần trước, chỉ trong vòng một năm quân Mông Cổ đã mua lấy thất bại. Ô Mã Nhi lần này bị bắt sống tại Bạch Đằng Giang. Sau đó quân Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên khiến Thoát Hoan phải thu tàn binh tháo chạy về Yên Kinh. Và tại Thăng Long, vua Trần Nhân Tông đem các tướng nhà Nguyên bị bắt như Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp làm lễ hiến phù tại Chiêu Lăng. Đây là một vinh dự cho Đại Việt đã 3 lần đơn độc phá vỡ kế hoạch Nam Tiến (tại Việt Nam), đồng thời ngăn cản cuộc Đông Tiến (tại Nhật Bản) của đoàn quân mệnh danh là “bách chiến bách thắng” từ đời Thành Cát Tư Hãn.

Và sau ba phen thất bại, Nhà Nguyên không còn dòm ngó đến Việt Nam cả trên lục địa lẫn ngoài hải phận. Trong cuốn “Tranh Chấp tại Biển Nam Hoa” Marwyn S. Samuels cũng xác nhận rằng: “Trong suốt thế kỷ 14, các đội hải thuyền hùng mạnh của Nhà Nguyên có đi tuần tiễu, nhưng tại Biển Nam Hoa, các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa không bị chiếm đóng và

cũng không thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc” (Marwyn S. Samuels: Contest for the South China Sea, Methuen, London, 1982).

Như đã trình bày, trong bài “Thám Hiểm Đại Dương”, học giả Hsieh Chiao-Min nhận định rằng: “Suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Trung Hoa không tha thiết đến đại dương”. Thuyết bế quan tỏa cảng được áp dụng từ đời nhà Tần, Vạn Lý Trường Thành không chỉ là một kiến trúc mà còn là một nhân sinh quan. Miền bờ biển được coi là nơi hoang vu man rợ, đảo Hải Nam là chốn lưu đày các tù nhân biệt xứ. Trong giả thuyết “Cổ Tẩu sát nhân” của Mạnh Tử (thế kỷ thứ IV Trước C.N.), vua Thuấn vào ngục thất cứu cha là Cổ Tẩu (phạm tội cố sát) rồi cõng cha chạy trốn về vùng bờ biển để mai danh ẩn tích đến trọn đời. Sau khi chôn sống 460 nho sĩ tại Hàm Dương, Tần Thủy Hoàng lưu đầy tất cả các nho sĩ đối kháng tại miền bờ biển. Trung Hoa là một đại lục bao la, cả miền Tây và miền Bắc đất rộng mênh mông còn chưa khai phá. Vậy mà từ đời nhà Tần, Trung Hoa đã tự cô lập từ trong đất liền đến ngoài đại dương. Cho đến đời nhà Thanh vào thế kỷ 19, chính sách bế quan tỏa cảng vẫn được thi hành.

Với tâm lý tự cô lập, không thể có 100 ngàn quân nhà Hán đi khai phá các tiểu đảo san hô tại Đông Hải. Rất có thể, như đã trình bầy, đó là 10 vạn thủy quân của Tào Tháo mượn lệnh Hán Đế đi xâm chiếm Đông Ngô và đã bị Chu Du và Gia Cát Lượng đánh tan trong trận Xích Bích.

“Trung Hoa không bao giờ là một cường quốc đại dương. Dân tộc Trung Hoa trong 4 ngàn năm chỉ sống về ruộng đất với những tập tục và quan niệm sống của nhà nông” (James Fairgrieve, Geography and World Power, London, 1921).

“Với các đặc tính của một dân tộc lục địa, Trung Hoa không phải là một cường quốc đại dương. Chú tâm của họ hướng về đất liền tại miền Trung Á hơn là ra hải ngoại. Do đó các kiến thức của họ về biển cả và duyên hải thật quá thô sơ”. (E. B. Elridge, The Background of Eastern Sea Power, Melbourne, 1948).

Đời Nhà Minh

Trong cuốn “Lịch Sử Trung Quốc Thời Trung Cổ” ghi trên, học giả Hsieh Chiao-Min ghi nhận rằng, theo chính sử, từ các thế kỷ thứ 3 và thứ 2 Trước C. N., người Trung Hoa chỉ đi tới Biển Nhật Bản và Đông Trung Quốc Hải. Họ không nghĩ có đất liền bên kia Thái Bình Dương. Do đó mọi cuộc thám hiểm đều hướng về Tây Dương.

Mãi đến thế kỷ 15 dưới đời Minh Thành Tổ (1403-1424) mới có những vụ thám hiểm đại dương từ Đông Nam Á đến Ấn Độ và Đông Phi .

Đồng thời với 5 cuộc Bắc Chinh chống Hung Nô, Minh Thành Tổ cử Đô Đốc Thái Giám Trịnh Hòa chỉ huy những cuộc hành trình tại Ấn Độ Dương mệnh danh là “Thất Hạ Tây Dương” (Tây hay Tây Trúc chỉ Ấn Độ và Tây Dương là Ấn Độ Dương).

Điều đáng lưu ý là về 7 chuyến công du tại trên 30 quốc gia trong 28 năm (từ 1405 đến 1433), chính sử Trung Hoa cũng ghi rõ phái bộ Trịnh Hòa chỉ đi qua Biển Nam Hoa nhằm thám hiểm Ấn Độ Dương. Như vậy không có chuyện phái bộ Trịnh Hòa đến các đảo Hoàng Sa và Trường Sa để chiếm hữu và hành sử chủ quyền.

Theo chính sử do các sử gia Trung Quốc trên thế giới hội nghị tại Đài Bắc năm 1968 và biên soạn năm 1978 thì trong các đời Tần Hán, Tùy Đường, Tống Nguyên và Minh Thanh, không thấy một dòng chữ nào đề cập việc Trung Quốc đem quân chiếm cứ các hải đảo tại Biển Đông Hải. Các chuyến hải hành chỉ vụ vào việc bành trướng thế lực ngoại giao và phát triển giao thương giữa Trung Hoa với các quốc gia Á Phi tại Ấn Độ Dương và Biển Ả Rập.

Tuy nhiên những chuyến hải hành chỉ nhằm phô trương thanh thế cho Minh Thành Tổ chứ không thực sự đem lại kết quả cụ thể nào về mặt ngoại giao. Do đó dư luận trong nước đã phê phán những chuyến đi phô trương nặng phần trình diễn làm hao mòn công quỹ khiến kinh tế quốc gia bị suy thoái.

Riêng tại Đại Việt, Giáo Sư J.K. Fairbank cũng nói về cuộc xâm lăng khởi sự năm 1407 và kết thúc năm 1427. Kết cuộc, với những tổn thất đáng kể, nhà Minh phải trả chủ quyền độc lập cho Việt Nam năm 1428.

Hoàng Sa Trường Sa theo Trung Quốc Sử

Trong Trung Quốc sử có rất nhiều tài liệu lịch sử do nhà cầm quyền phổ biến và nhiều tác phẩm của các học giả Trung Hoa thừa nhận chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại Hoàng Sa Trường Sa.

Dưới đời Nhà Thanh, trong ba thế kỷ từ 17 đến 20:

a) Theo bản đồ Hoàng Thanh Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồ năm 1894 đời vua Quang Tự thì đến cuối thế kỷ 19 “lãnh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là hết” (Hải Nam cách Hoàng Sa 150 hải lý (275 km) về phía đông nam).

b) Qua thế kỷ 20 sự kiện này được xác nhận trong cuốn Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư xuất bản năm 1906 (cũng đời vua Quang Tự) với đoạn như sau: “Điểm cực Nam của Trung Quốc là bờ biển Châu Nhai thuộc quận Quỳnh Châu (Hải Nam) tại Vĩ Tuyến 18″.

c) Trong bản đồ Đại Thanh Đế Quốc do Chính Phủ ấn hành cũng không thấy vẽ các quần đảo Hoàng Sa Trường Sa, và không thấy ghi các danh xưng Hán hóa Tây Sa, Nam Sa.

d) Trong bộ Hải Quốc Đồ Ký, cuốn Hải Lục của Vương Bỉnh Nam (1820-1842) viết: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) là giải cát dài ngoài biển được dùng làm phên dậu che chắn mặt ngoài bờ cõi nước An Nam”. Như vậy có sự nhìn nhận rằng quần đảo này là biên thùy hải phận của Việt Nam.

e) Theo học giả Marwyn S. Samuels trong cuốn Tranh Chấp tại Biển Nam Hoa nói ở trên”không có bằng chứng nào cho thấy nhà Thanh đã chiếm hữu và sát nhập Hoàng Sa Trường Sa vào lãnh thổ Trung Quốc”.

f) Trong tập Địa Dư Chí Tỉnh Quảng Đông được vua Ung Chính duyệt phê năm 1731, không thấy ghi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Trung Quốc.

g) Trong bộ “Đại Thanh Nhất Thống Chí” do Quốc Sử Quán Trung Hoa biên soạn năm 1842 với lời tựa của vua Đạo Quang không có chỗ nào ghi Thiên Lý Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa (quần đảo Hoàng Sa) thuộc hải phận tỉnh Quảng Đông.

h) Đặc biệt là trong cuốn Hải Quốc Văn Kiến Lục của Trần Luân Quýnh (năm 1744), vùng hải phận của Việt Nam tại Biển Đông Hải được ghi bằng các danh xưng Việt Hải và Việt Dương.

i) Ngoài ra cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự của Hòa Thượng Thích Đại Sán xuất bản năm 1695 đời Khang Hi cũng ghi nhận Đại Việt đã chiếm hữu, và khai thác Biển Đông với Hoàng Sa Trường Sa.

Đời nhà Minh

a) Bản Đồ Mao Khôn trong cuốn Vũ Bị Chí của Mao Nguyên Nghi gọi vùng biển Việt Nam là Giao Chỉ Dương.

b) Trên các bản đồ Trịnh Hòa Hạ Tây Dương và Trịnh Hòa Hàng Hải Đồ không thấy ghi các quần đảo Hoàng Sa Trường Sa với các danh xưng Hán hóa Tây Sa, Nam Sa, Tuyên Đức, Vĩnh Lạc trong các lộ trình của Trịnh Hòa 7 lần đi ngang qua Biển Nam Hoa để khai phá Ấn Độ Dương.

c) Trong hai thế kỷ 14 và 15 có sự giao chiến trường kỳ 100 năm

giữa Việt Nam và Chiêm Thành: Với Chế Bồng Nga đời vua Trần Nghệ Tông (năm 1370), và với hai anh em Trà Toàn, Trà Toại đời vua Lê Thánh Tông (năm 1470). Nếu quả thật nhà Minh đã chiếm đất Chiêm Thành trong chuyến đi thứ tư của Trịnh Hòa năm 1413, thì lẽ tất nhiên sử sách của Trung Hoa, Chiêm Thành và Việt Nam đã phải ghi chép việc đó.

Mà nếu Trịnh Hòa đã chiếm Chiêm Thành năm 1413 thì lẽ tất nhiên Nhà Minh đã phải đem quân chống lại vua Lê Thánh Tông là người đã phát động Chiến Dịch Nam Tiến năm 1470 để mở rộng lãnh thổ đến Bình Định Phú Yên.

d) Theo sách Dư Địa Chí đời Hồng Đức lưu trữ tại Đông Dương Văn Khố Tokyo, tới hậu bán thế kỷ 15 dưới triều vua Lê Thánh Tông năm Hồng Đức nguyên niên (1470), Chiêm Thành đã là lãnh thổ của Đại Việt gồm có lục địa, hải phận và các hải đảo.

e) Về việc này cuốn Minh Sử ghi chép như sau: “Sứ thần Chiêm Thành nói: Cổ lai đất nước Chiêm có 27 xứ, 4 phủ, 7 châu, 22 huyện, nay vua An Nam lấy đi chỉ còn 5 xứ, từ Bang Đô Lang đến Chân Lạp”. Lúc này vua Nhà Minh yêu cầu vua Lê Thánh Tông trả đất cho Chiêm Thành nhưng Ngài không chịu. Lý do là vì Minh Chủ không chịu trả đất Nam Việt thời Triệu Vũ Đế cho Đại Việt. Tài liệu lịch sử này cho biết từ thế kỷ 15, vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa nguyên là địa bàn ngư nghiệp của Chiêm Thành đã trở thành lãnh thổ Đại Việt.

Đời nhà Nguyên

a) Trong thế kỷ 13 Mông Cổ bị Đại Việt 3 lần đánh bại trong 3 thập niên,vào những năm 1257, 1285 và 1287. Sau ba phen thất bại, Nhà Nguyên không còn dòm ngó Việt Nam từ trên lục địa đến ngoài hải phận. Và trong các thế kỷ 13 và 14, theo chính sử, quân Mông Cổ không xâm chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

b) Theo cuốn Tranh Chấp tại Biển Nam Hoa của Marwyn Samuels “trong thế kỷ 14 các đội hải thuyền hùng mạnh của nhà Nguyên có đi tuần tiễu, nhưng tại Biển Nam Hoa các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa không bị chiếm đóng và không thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc” (sách đã dẫn, trang 20).

c) Cũng như các sách sử địa đời Nhà Thanh, cuốn Nguyên Sử Địa Lý Chí đã viết như sau: “Cương vực Trung Quốc đời Nhà Nguyên về phía Nam chỉ đến Đảo Hải Nam, và về phía Bắc không quá Sa Mạc Gobi”.

Đời Nhà Tống

a) Như trong thế kỷ 13 đời Nhà Nguyên, trong hai thế kỷ thứ 10 và 11 Việt Nam cũng đã 3 lần đánh thắng Nhà Tống trong những năm 981, 1075 và 1076.

b) Sau 3 phen thất trận, theo trình tấu của Hoàng Thân Triệu Nhữ Quát, vua Tống Thần Tông đã phải theo chính sách Trọng Võ Ái Nhân (thận trọng việc võ bị, thương xót mạng người, không phơi binh nơi lam chướng). Và đã thừa nhận nền độc lập của Đại Việt.

c) Sách Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ Quát nhìn nhận rằng quần đảo Hoàng Sa mà tác giả gọi là Thiên Lý Trường Sa (Bãi Cát Dài Ngàn Dặm) là đất của nước phiên thuộc An Nam,

d) Trong đời Nam Tống cuốn Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Chu Khứ Phi cũng xác nhận: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) tọa lạc tại Giao Chỉ Dương”.

Đời Nhà Đường

a) Sách Đường Thư Nghệ Văn Chí đề cập đến cuốn Giao Châu Dị Vật Chí của Dương Phu trong đó tác giả tường thuật những việc kỳ dị và những nơi kỳ dị tại Giao Châu (Việt Nam). Như tại Thất Châu Dương (Nhóm An Vĩnh, Hoàng Sa) là nơi có nhiêu từ thạch hay đá nam châm khiến các thuyền ngoại dương có đóng chốt sắt không đi qua được. Đây có sự thừa nhận các đảo Hoàng Sa là thành phần của Việt Nam.

b) Ngoài ra sách Tứ Di Lộ Trình của Giã Đàm đời Đường có vẽ hải đạo Hồng Kông-Tân Gia Ba nhưng không ghi các hải đảo Hoàng Sa, Trường Sa hay các danh xưng Tây Sa, Nam Sa.

Đời Nhà Hán

a) Trong cuốn Chư Phiên Chí, sử gia Triệu Nhữ Quát đời Nhà Tống đã xác nhận sự kiện lịch sử đáng ghi nhớ như sau: Năm 111 Trước C. N., sau khi thôn tính Nam Việt “Hán Vũ Đế sai quân vượt biển sang chiếm đất của địch quân (Nam Việt) và đặt ra hai quận Châu Nhai và Đạm Nhĩ (Đảo Hải Nam). Trong thế kỷ thứ nhất Trước C.N. Hán Nguyên Đế đã rút quân khỏi đảo Hải Nam, mãi tới đời nhà Lương và nhà Tùy vào cuối thế kỷ thứ 6 và đầu thế kỷ thứ 7 mới đặt lại quyền cai trị”.

b) Như đã trình bày, đến cuối đời Nhà Thanh vào đầu thế kỷ 20, biên cương của Trung Quốc về phía Nam chỉ chạy tới đảo Hải Nam tại vĩ tuyến 18.

Tổng kết lại, về mặt chính sử, trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần Hán thế kỷ thứ 3 Trước C.N. đến thế kỷ 20 đời Nhà Thanh, không thấy tài liệu nào, hay nói rõ hơn, không có câu nào ghi rằng Biển Đông Hải với Hoàng Sa Trường Sa thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc.

Mãi tới năm 1951 nhân kỳ Hội Nghị Hòa Bình San Francisco 1951, lần đầu tiên Chính Phủ Bắc Kinh mới đưa ra Công Bố ngày 1-9-1951 đòi chủ quyền lãnh thổ tại các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó là Bản Chú Giải về Đảo Nam Uy và Quần Đảo Tây Sa theo đó “đảo Nam Uy cùng toàn thể các quần đảo Nam Sa và Tây Sa đều là lãnh thổ của Trung Quốc, các tài liệu lịch sử liên quan đến các quần đảo này có từ đời nhà Tống”.

Tuy nhiên lịch sử Trung Quốc đã không xác nhận như vậy. Cuốn Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Chu Khứ Phi đời Nhà Tống gọi vùng biển Hoàng Sa Trường Sa là Giao Chỉ Dương

Qua năm 1956 khi Phi Luật Tân đòi chủ quyền các hải đảo Thái Bình (Itu Aba) và Trường Sa (Spratly), ngày 29-5-1956 Chính Phủ Đài Bắc cũnglên tiếng phản kháng, chủ trương rằng các hải đảo này đã thuộc chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc từ đời nhà Minh.

Dầu sao, cũng như Bản Công Bố Chủ Quyền của Bắc Kinh năm 1951, Bản Phản Kháng Phi Luật Tân của Đài Bắc năm 1956 không viện dẫn được bằng chứng cụ thể nào về pháp lý, địa lý hay lịch sử để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hai Chính Phủ Quốc Cộng Trung Hoa chỉ quả quyết suông rằng Biển Nam Hoa là Biển Lịch Sử của Trung Quốc từ các đời Tống Thần Tông hay Minh Thành Tổ. Đây chỉ là sách lược của Bắc Kinh nhằm phục hồi Đế Quốc Đại Hán do Mao Trạch Đông phát động từ thập niên 1950. Để thi đua tranh thủ nhân tâm, Đài Loan cũng đã phải phụ họa.

Ngày nay, với “tứ hiện đại hóa”, Trung Quốc đã biểu lộ tính hiếu chiến trong chính sách bành trướng cả về kinh tế lẫn chủ quyền lãnh thổ. Quân đội Trung Quốc đang tăng cường sức mạnh để hy vọng có ngày đủ phương tiện nhằm lọai trừ hay phòng ngừa sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Á Châu Thái Bình Dương. Sau đó, theo truyền thống và tự hào lịch sử, họ sẽ bước vào giai đoạn đối đầu với phe Dân Chủ Tây Phương. Họ kỳ vọng rằng với quyết tâm và phát triển kinh tế, hệ thống Trung Quốc sẽ nổi bật trên thế giới khiến các quốc gia khác phải khâm phục và mặc nhiên chấp thuận để họ thôn tính các vùng lãnh thổ và hải đảo tại Á Châu Thái Bình Dương.

Những nhận định của Viện Nghiên Cứu Chính Sách Hoa Kỳ cũng là nhận định của Tiến Sĩ Lỗ Chi-Kin từ Hồng Kông trong Luận Án Tiến Sĩ đệ trình Đại Học Kinh Tế Chính Trị Luân Đôn năm 1986. Theo Mao Trạch Đông “những lãnh thổ phụ dung trước kia đã được Trung Quốc chinh phục và khai hóa, nay phải trả lại (Trung Quốc) văn minh chứ không thể thuộc về phe (Đế Quốc) dã man”. (Chi-Kin Lo, Doctor of Laws Thesis London 1986)

Từ sau Chiến Tranh Biên Giới Hoa-Ấn năm 1962, mọi người nhìn rõ tham vọng không bao giờ thỏa mãn của Trung Quốc muốn đòi những lãnh thổ mà họ đã thôn tính trong lịch sử. Chính sách này được phổ biến năm 1954 trong cuốn “Lược Sử Tân Trung Quốc” có kèm theo bản đồ, nhắc lại lời Mao Trạch Đông: “Tất cả các lãnh thổ và hải đảo thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc đã từng bị phe Đế Quốc Tây Phương và Nhật Bản chiếm đoạt từ giữa thế kỷ 19 đến sau Thế Chiến I, như Ngoại Mông, Triều Tiên, “An Nam”, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Nepal, Ladakh, Hồng Kông, Macao, cùng những hải đảo Thái Bình Dương như Đài Loan, Bành Hồ, Ryukyu, Sakhalin, phải được giao hoàn cho Trung Quốc”.

Đây là khát vọng bá quyền của Trung Quốc không bao giờ thỏa mãn. Đế Quốc Ngai Rồng phát hiện từ các đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Tống Thánh Tông, Minh Thành Tổ đã được Mao Trạch Đông chủ trương phục hồi từ 1955.

Nếu quả thật muốn trung thành với chủ trương phải giao hoàn các lãnh thổ bị xâm chiếm do chiến tranh võ trang, thì trước hết Trung Quốc phải giao hoàn cho Việt Nam lãnh thổ nước Nam Việt do Triệu Vũ Vương thiết lập năm 207 Trước C. N. (gồm vùng trung nguyên Trung Quốc với các tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, đảo Hải Nam và Bắc Việt Nam). Tuy nhiên năm 111 Trước C. N. Hán Vũ Đế đã đem quân thôn tính Nam Việt nhằm Hán hóa vùng lãnh thổ này, mặc dầu Nam Việt có nền văn hóa đặc thù khác với các dân tộc du mục Miền Bắc. Đó cũng là nhận định của Giáo Sư C. P. Fitzgerald tại Đại Học Oxford: “Trong trường hợp nước Nam Việt giữ vững chủ quyền độc lập với nền văn hóa đặc thù của Miền Nam, thì dầu nhà Hán có chiếm được miền Quảng Châu và Vân Nam, họ cũng sẽ không thành công trong việc thiết lập ảnh hưởng tại vùng châu thổ Sông Tây Giang phía đông nam Trung Quốc”. (C. P. Fitzgerald, China, A Short Cultural History, p 184).

Theo quan niệm truyền thống của Đạo Nho văn hóa nông nghiệp Phương Nam tôn trọng hòa bình, bao dung và nhân ái, trong khi các sắc dân du mục Phương Bắc đặt nặng vấn đề đấu tranh sống chết, một mất một còn. Diễn giải quan niệm về Sức Mạnh trong bài “Tử Lộ Vấn Cường” (Trung Dung), Khổng Tử đối chiếu tác phong hiếu chiến tại Phương Bắc với quan niệm hiếu hòa tại Phương Nam:

“Lấy khoan nhân nhu hòa mà giáo hóa, không chủ trương báo thù kẻ vô đạo, đó là Sức Mạnh của Phương Nam, và cũng là nơi người quân tử cư ngụ”. (Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo, Nam Phương chi Cường, quân tử khả cư).

“Ngồi trên lưng ngựa, mặc áo giáp, đeo gươm giáo, xông pha nơi chiến địa, trước cái chết không sờn lòng, đó là Sức Mạnh của Phương Bắc và cũng là nơi người hiếu chiến cư ngụ”.

Trở lại chính sách bá quyền, Trung Quốc vẫn giữ thái độ tiền hậu bất nhất trong những vụ tranh chấp chủ quyền lãnh thổ tại Biển Nam Hoa. Vì một mặt Bắc Kinh vẫn mạnh miệng quả quyết nắm chắc phần thắng trong tay, nhưng mặt khác, họ vẫn không dám đưa vấn đề tranh chấp chủ quyền hải đảo và hải phận tại Biển Nam Hoa hay Biển Đông Nam Á ra trước các cơ quan trọng tài quốc tế.

Ngày nay, cùng với người Việt trong và ngoài nước, chúng ta thách thức Bắc Kinh công khai đưa vụ tranh chấp chủ quyền các hải đảo và hải phận tại Biển Đông Hải, Biển Nam Hoa hay Biển Đông Nam Á ra trước các cơ quan tài phán, trọng tài hay tham vấn theo thủ tục quốc tế. (Judicial litigation, arbitration or consultation)

Tại vùng Biển Đông Nam Á, rập theo tham vọng của Đế Quốc La Mã hồi thế kỷ thứ nhất coi Địa Trung Hải là Biển Lịch Sử La Mã, Bắc Kinh cũng đưa ra thuyết Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc (mà dân gian gọi là Lưỡi Bò). Họ coi đó là mục tiêu chiến lược từ sau 1951. Nhất là từ 1982 khi Trung Quốc ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.

Tuy nhiên thuyết Biển Lịch Sử ngày nay đã lỗi thời. Nó đi trái Điều 8 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển và đi trái Luật Tục Lệ Quốc Tế của Tòa Án Quốc Tế The Hague.

Trong suốt 22 thế kỷ, từ các đời Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Tống Thần Tông, Minh Thành Tổ đến giữa thế kỷ 20 (năm 1951), Trung Quốc không bao giờ lên tiếng yêu sách đòi chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa). Họ khẳng định đó là một vấn đề “bất khả tranh nghị”. Để tránh né mọi cuộc tranh luận công khai trước các cơ quan tham vấn, trọng tài hay tố tụng. Lý do là vì họ không đưa ra được quan điểm pháp lý hay một bằng chứng lịch sử khả tín nào cho thấy họ có chủ quyền tại các quần đảo này.

Năm 1982, sau khi ký Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, Bắc Kinh tập hợp 400 học giả, ngày đêm nghiên cứu, thảo luận trong suốt 10 năm để kết luận rằng “Biển Nam Hoa là Biển Lịch Sử của Trung Quốc từ hàng ngàn năm nay”. Rồi họ hội nghị với 100 nhà trí thức Đài Loan để xác định chủ trương này.

Tuy nhiên về mặt Công Pháp Quốc Tế, chiếu án lệ của Tòa Án Quốc Tế The Hague, muốn có Biển Lịch Sử phải hội đủ 3 điều kiện:

1. Phải có sự hành sử chủ quyền;

2. Một cách liên tục và trường kỳ; và

3. Được sự thừa nhận của các quốc gia duyên hải, đặc biệt là các quốc gia tiếp cận và đối diện.

Dầu sao Tòa Án Quốc Tế đã định nghĩa “biển lịch sử là nội hải”.

Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 đã kết thúc mọi cuộc tranh luận khi quy định trong Điều 8 như sau:

“Ngoại trừ trường hợp các quốc gia quần đảo [như Phi Luật Tân hay Nhật Bản] Biển Lịch Sử hay nội hải của một quốc gia nằm bên trong đất liền, về phía bên trong đường cơ sở của biển lãnh thổ. The International Court of Justice has defined historic waters as “internal waters”; “Waters on the landward side of the baseline of the territorial sea form part of the internal waters of the State” (Art. 8 UNCLOS 1982).

Thủ Đắc do Chiếm Cứ

Theo công pháp quốc tế, muốn thủ đắc chủ quyền các đất vô chủ sự chiếm cứ phải có những đặc tính sau đây:

a) Chiếm cứ hòa bình.

Không có sự chối cãi rằng trong năm 1956 hải quân Trung Quốc đã chiếm cứ võ trang 7 đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm An Vĩnh phía đông bắc.

Năm 1974 Trung Quốc lại dùng võ lực xâm chiếm 6 đảo Hoàng Sa thuộc Nhóm Lưỡi Liềm phía tây nam.

Năm 1988, lần đầu tiên hải quân Trung Quốc tấn công võ trang các đảo Trường Sa, và đã chiếm Đá Chữ Thập và Đá Gaven cùng một số đá chìm và bãi ngầm.

Năm 1992, Trung Quốc lại dùng võ lực xâm chiếm Bãi Vạn An trên Thềm Lục Địa Việt Nam phía đông nam các bãi dầu khí Thanh Long và Tứ Chính.

Những vụ chiếm cứ này không có tính hòa bình mà do xâm lăng võ trang nên không được luật pháp và tòa án bảo vệ. Vì nó đi trái Điều 2 Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. Cũng như thời Thế Chiến II, Nhật Bản đã chiếm cứ Hoàng Sa và Trường Sa bằng võ lực nên không có tư cách chủ quyền hợp pháp.

2) Chiếm cứ liên tục và trường kỳ

Cho đến ngày 1-9-1951 Trung Quốc mới lên tiếng đòi “chủ quyền lịch sử ” tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Tuy nhiên, theo cuốn Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư xuất bản năm 1906 đời vua Quang Tự Nhà Thanh “Điểm cực Nam của Trung Quốc là bờ biển Châu Nhai thuộc quận Quỳnh Châu (Hải Nam) tại Vĩ Tuyến 18″.

Theo Minh Sử, đời vua Lê Thánh Tông từ thế kỷ 15 (năm 1470), các đảo Hoàng Sa và Trường Sa nguyên là địa bàn ngư nghiệp của Chiêm Thành đã trở thành lãnh thổ của Đại Việt.

Theo Nguyên Sử “Cương vực Trung Quốc đời Nhà Nguyên về phía Nam chỉ đến Đảo Hải Nam, và về phía Bắc không quá Sa Mạc Gobi”.

Lịch sử Trung Quốc không mang lại bằng chứng khách quan vô tư nào cho biết họ đã liên tục chiếm cứ, công bố và hành sự chủ quyền tại Hoàng Sa, Trường Sa từ các đời Hán Vũ Đế, Tống Thần Tông, Minh Thành Tổ hay Quang Tự. Nếu chỉ có một số ngư dân lẻ tẻ từ đảo Hải Nam đến đánh cá theo mùa thì cũng không có sự công bố và hành sử chủ quyền của Quốc Gia.

3) Hơn nữa sự chiếm cứ phải được sự thừa nhận của các quốc gia liên hệ.

Đầu tháng 9, 1951, 51 quốc gia đồng minh họp Hội Nghị Hòa Bình Cựu Kim Sơn để ký Hiệp Ước Hòa Bình Nhật Bản, trong đó Nhật Bản từ bỏ quyền đòi Hoàng Sa Trường Sa nhưng không nói để trả cho nước nào. Ngoại Trưởng Liên Sô Gromyko nạp tu chính án yêu cầu Hội Nghị biểu quyết trao Hoàng Sa Trường Sa cho Trung Quốc. Nhưng Hội Nghị đã bác bỏ thỉnh cầu này với 46 phiếu chống và 3 phiếu thuận. Sau đó Thủ Tướng kiêm Ngoại Trưởng Quốc Gia Việt Nam Trần Văn Hửu lên diễn đàn công bố chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa Trường Sa và không gặp sự phản kháng nào.

4) Sự thừa nhận chủ quyền hải đảo chỉ có ý nghĩa nếu xuất phát từ các quốc gia duyên hải đối diện và tiếp cận. Vì các đảo này tọa lạc tại Biển Đông Nam Á, nên chỉ các quốc gia Đông Nam Á mới có thẩm quyền thừa nhận. Mà cho đến nay trong tất cả các quốc gia Đông Nam Á không một nước nào thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa.

5) Điều đáng lưu ý là, cho đến những năm 1956, 1974, 1988 và 1992 các đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã do Việt Nam chiếm cứ công khai, hòa bình, trường kỳ và liên tục nên không thể coi đó là đất vô chủ. (terra nullius)

Do đó, về công pháp quốc tế, thuyết Biển Lịch Sử không còn là một vấn đề tranh nghị tại các Tòa Án Trọng Tài hay các Tòa Án Luật Biển. Vì thuyết này đi trái với Luật Tục Lệ Quốc Tế của Tòa Án Quốc Tế The Hague, và đã bị Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển bác bỏ trong Điều 8.

Vì biết rõ điều đó nên Trung Quốc không dám đưa vụ tranh chấp hải phận và các hải đảo tại Biển Đông Nam Á ra trước Tòa Án Quốc Tế, Tòa Án Luật Biển hay Tòa Án Trọng Tài Liên Hiệp Quốc.

BÀI ĐỌC THÊM

HAI CHIẾN DỊCH TRUYỀN THÔNG CỦA BẮC KINH:
TRỊNH HÒA KHÁM PHÁ MỸ CHÂU NĂM 1421
VÀ CHIẾM CỨ HOÀNG SA TRƯỜNG SA NĂM 1413

Khám phá Mỹ Châu là nói cho vui; thôn tính Biển Đông là mục tiêu chiến lược.

Mới đây Trung Quốc phát động hai chiến dịch phô trương, tuyên truyền rằng:

1. Năm 1421, trong Chuyến Đi Thứ Sáu (1421-1422) của Chiến Dịch Thất Hạ Tây Dương, Trịnh Hòa đã khám phá Mỹ Châu, trước Christopher Columbus 71 năm (năm 1492). So với Vasco Da Gama là người đã khám phá Mũi Hảo Vọng và đi xuyên 3 đại dương, từ Đại Tây Dương qua Ấn Độ Dương đến Thái Bình Dương (năm 1498), Trịnh Hòa đã thực hiện cuộc hành trình xuyên dương 77 năm về trước.

2. Và trong Chuyền Đi Thứ Tư (1413-1415) Trịnh Hòa đã chiếm cứ Chiêm Thành cả trên lục địa lẫn ngoài hải phận trong đó có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đây là hai chiến dịch truyền thông, mạo nhận thành tích để phô trương thanh thế và bóp méo sự thật.

Dầu sao sự mạo nhận này đã bị lịch sử phủ nhận.

TRỊNH HÒA KHÁM PHÁ MỸ CHÂU NĂM 1421?

Trước hết, theo chính sử Trung Quốc, suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Trung Hoa không tha thiết đến đại dương. Thản hoặc, trong các thế kỷ thứ ba và thứ hai Trước Công Nguyên (thời Đế Quốc Tần Hán), Trung Hoa đã gửi những đoàn thám hiểm đến Biển Nhật Bản. Và trong thế kỷ 15, Minh Thành Tổ đã cử những phái đoàn thám hiểm Tây Dương đến Đông Nam Á, Ấn Độ và Phi Châu và đã viếng thăm 37 quốc gia duyên hải tại Ấn Độ Dương. Đó là những chuyến đi về ngoại giao và thương mại (tribute and trade). Những sự kiện này đã được ghi chép trong 3 loại tài liệu lịch sử:

a. Cuốn Minh Sử là chính sử.

b. Các bia kỷ niệm và các đồ bản tuyên dương thành thích được tồn trữ tại Phúc Kiến là địa điểm xuất phát Chiến Dịch.

c. Các sách sử địa trước tác bởi các thành viên tham gia Chiến Dịch như Doanh Nhai Thắng Lãm của Mã Hoan và Tinh Tra Thắng Lãm của Phi Tín. Trong Chuyến Đi Thứ Tư (1413-1415) Trịnh Hòa đi quá Ấn Độ, Vịnh Ba Tư, Biển Hồng Hải đến đông Phi Châu phía cực tây Ấn Độ Dương.

Về Chuyến Đi Thứ Sáu (1421-1422) Bắc Kinh đại ngôn rằng Trịnh Hòa đã đi xuyên qua Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương để khám phá Mỹ Châu năm 1421.

Tuy nhiên, theo chính sử, Chuyến Đi Thứ Sáu của Trịnh Hòa là chuyến đi ngắn nhất chỉ kéo dài 7 tháng, từ tháng 2-1421 đến tháng 9-1421. Trong chuyền đi này Trịnh Hòa chỉ đi từ Phúc Kiến đến Sumatra (Nam Dương). Kế tiếp, hai sĩ quan tùy viên Yang Ching và Hung Pao đã điều khiển cuộc hải trình. (Lịch Sử Trung Quốc Thời Trung Cổ (1978), trang 290-292).

Trong 7 chuyến công du, Trịnh Hòa không đến Đại Tây Dương, mà chỉ đi qua Biển Nam Hoa đến Ấn Độ Dương. Và như vậy không có việc, trong thế kỷ 15, Trịnh Hòa đã đi xuyên qua 3 đại dương là Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương, và qua 3 châu Á, Phi và Âu để khám phá Mỹ Châu năm 1421.

Trong cuốn Trung Hoa Thao Túng Đại Dương học giả Louise Levathes, bỉnh bút tờ Nữu Ước Thời Báo và là giáo sư thỉnh giảng tại Đại Học Nam Kinh, cũng xác nhận điều đó: “Trong thời gian từ 1405-1433 các đoàn bảo thuyền (treasure ships) do Đô Đốc Thái Giám Trịnh Hòa chỉ huy đã thực hiện 7 cuộc hành trình vượt qua Biển Nam Hoa đến Ấn Độ Dương, Vịnh Ba Tư và bờ biển Đông Phi [chứ không sang Đại Tây Dương]. Trong những cuộc tiếp xúc với các thương gia Ả Rập người Trung Hoa cũng nghe nói về Âu Châu. Tuy nhiên họ đã không đến miền “cực tây” đó, vì Âu Châu chỉ sản xuất len dạ và rượu vang là những sản phẩm không được thị trường Trung Quốc ưa chuộng”. (Louise Levathes: When China Ruled the Seas, Simon & Schuster, New York, 1994, p. 20).

Mục đích những chuyến công du là thiết lập quan hệ ngoại giao và giao lưu thương mại. Nếu quả thật hồi đó Trịnh Hòa đến Đại Tây Dương thì lẽ tất nhiên đã phải ghé đến các cường quốc Âu Châu hồi thế kỷ 15 như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hòa Lan trước khi đi xuống Mỹ Châu là vùng đất hoang vu với các sắc dân da đỏ bán khai không thành quốc gia mà cũng không có những tài nguyên hay thổ sản để giao lưu thương mại với Trung Quốc.

Và chiến dịch truyền thông của Đế Quốc Đại Hán chỉ là chuyện bịa đặt vụng về, bất khả tín.

Như vậy, theo các sử liệu của Trung Quốc và trên thế giới, Trịnh Hòa không lai vãng đến Đại Tây Dương và cũng không khám phá Mỹ Châu. Đây chỉ là một chiến dịch tuyên truyền, bịa đặt thành tích để phô trương thanh thế. Tuyên truyền dối trá là võ khí chiến lược số 1 của Cộng Sản.

Trung thành với sách lược này, Bắc Kinh còn dựng đứng câu chuyện, từ thế kỷ 15 Trịnh Hòa đã chiếm cứ Chiêm Thành với Hoàng Sa Trường Sa.

TRỊNH HÒA CHIẾM HOÀNG SA TRƯỜNG SA NĂM 1413?

Sau vụ đảo chánh cướp ngôi của cháu ruột Minh Huệ Đế năm 1402, để làm lạc hướng dư luận, về mặt quốc tế, năm 1405 Minh Thành Tổ phát động chiến dịch Thất Hạ Tây Dương. Về mặt quốc nội, huy động hàng trăm học giả Trung Quốc soạn thảo cuốn Vĩnh Lạc Đại Toàn để đề cao cá nhân Minh Thành Tổ. Điều mỉa mai là, viện cớ khôi phục nhà Trần, Minh Thành Tổ, kẻ soán đoạt ngôi vua Nhà Minh, đã đem quân trừng phạt Hồ Quí Ly là kẻ soán đoạt ngôi vua Nhà Trần. Trương Phụ, Mộc Thạnh truyền hịch loan báo quân Tầu chỉ sang Việt Nam để tái lập ngôi vua nhà Trần, một triều đại vinh quang được toàn dân quý mến sau 3 trận đại thắng quân Mông Cổ. Với chiêu bài “cứu dân phạt tội” nhằm thu phục nhân tâm, quân nhà Minh đánh đâu được đó, quân nhà Hồ phần giã ngũ, phần qui hàng. Chủ yếu Minh Thành Tổ đã lợi dụng thời cơ để đem quân thôn tính Đại Việt trong suốt 20 năm (1407-1427).

Về Chiến Dịch Thất Hạ Tây Dương, trong Chuyến Đi Thứ Nhất (1405-1407), với một hạm đội hùng mạnh trên 27 ngàn sĩ tốt và hơn 300 hải thuyền, trong đó có 62 bảo thuyền lớn (large treasure ships), Trịnh Hòa đã không đổ bộ Việt Nam, chỉ ghé bến Đồ Bàn hay Trà Bàn (Chaban). Lúc này, nếu quả thật có kế hoạch thôn tính Chiêm Thành, Minh Thành Tổ chỉ cần điều động đội thủy binh hùng mạnh của Trịnh Hòa trong Chuyến Đi Thứ Nhất, chứ không cần phải đợi đến Chuyến Đi Thứ Tư (năm 1413) mới dùng thủ đoạn đồng minh giả hiệu để xâm chiếm Chiêm Thành cả trên lục địa lẫn ngoài hải phận.

Vả lại, theo chính sử, về Chuyến Đi Thứ Tư (1413- 1415), Minh Sử chỉ ghi Trịnh Hòa có đến Ấn Độ Dương, Vịnh Ba Tư, Biển Hồng Hải và Đông Phi Châu, chứ không ghi việc Trịnh Hòa đã chiếm Chiêm Thành với Hoàng Sa Trường Sa. Đặc biệt Trịnh Hòa đã ra huấn thị cho các đội hải thuyền: “phải tránh xa các vùng đá ngầm và các đảo nguy hiểm tại Biển Nam Hoa” [Thất Châu Dương phía tây bắc Hoàng Sa]. Trong những chuyến đi sau này, nhiều bảo thuyền đã bị mất tích vì bão tố.(Louise Levathes: When China Ruled the Seas, p. 93).

Điều đáng lưu ý là, lập luận của Chính Phủ Bắc Kinh cho rằng Trịnh Hòa đã chiếm Hoàng Sa Trường Sa từ đời Nhà Minh (thế kỷ 15) hoàn toàn mâu thuẫn với lập trường của chính họ trong Bản Chú Giải về các Đảo Nam Uy (Trường Sa) và Tây Sa (Hoàng Sa) ngày 1-9-1951, theo đó Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa Trường Sa từ đời Nhà Tống (thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 13). (Notes on the Nanwei and Sisha Islands of 9-1-1951: People’s China Foreign Language Press) (1*).

Đây chỉ là những quyết đoán hồ đồ và những khẩu thuyết vô bằng.

Vì nếu Bắc Kinh dám tuyên bố Trịnh Hòa đã khám phá Mỹ Châu năm 1421, thì họ cũng không ngần ngại bịa đặt rằng Trịnh Hòa đã thôn tính Hoàng Sa Trường Sa năm 1413.

Nói tóm lại, về hai chiến dịch truyền thông cho rằng Trịnh Hòa đã khám phá Mỹ Châu năm 1421, và đã chiếm cứ Hoàng Sa Trường Sa năm 1413, chúng ta chỉ có thể kết luận: Phải là người Đại Hán đảm lược (to gan lớn mật) mới dám lấy những chuyện hoang đường võng tưởng làm sự thật lịch sử.

Trên đây là những sự thật lịch sử do các học giả Trung Quốc biên soạn. Đó cũng là những lời bình giải mà ngýời viết chuyển ðến ông Tập Cận Bình nhân chuyến công du mới đây của ông tại Hoa Kỳ.

Luật Sư Nguyễn Hữu Thống
Chủ Tịch Ủy Ban Luật Gia
Bảo Vệ Dân Quyền

(1*) Đọc lại lịch sử Chiêm Thành chúng ta không thấy điều khoản nào ghi rằng trong thế kỷ 15 đời Minh Thành Tổ, Trung Quốc đã chiếm cứ nước Chiêm gồm cả lục địa và hải phận trong đó có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Theo cuốn Bách Khoa Toàn Thư Anh Quốc (Encyclopedia Britannica 1973, Champa trang 723), Chiêm Thành là một quốc gia phân hóa thành bốn tiểu bang hay “phủ” là: Amaravati (Quảng Nam), Vijaya (Bình Định), Kauthara (Khánh Hòa) và Panduranga (Bình Thuận hay Phan Rang). Tới thế kỷ thứ 6 Chiêm Thành thoát khỏi sự thống trị của Trung Quốc để trở thành một nước độc lập đặt thủ đô tại Amaravati (Quảng Nam). Trong thế kỷ thứ 9 quân Chiêm tấn công tại mấy tỉnh Giao Châu về phía bắc đồng thời đẩy lui Chân Lạp về phía tây.

Đến thế kỷ thứ 10 Việt Nam giành được độc lập. Và trong thế kỷ 11 khi vua Lý Thánh Tông đổi quốc hiệu là Đại Việt (năm 1054) phát động cuộc Nam Chinh trừng phạt Chiêm Thành, Chế Củ đã dâng ba châu thuộc địa phận Quảng Bình Quảng Trị để chuộc tội (năm 1069).

Qua thế kỷ 14, sau khi 3 lần đại thắng quân Mông Cổ, Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông trong cuộc thắng cảnh Chiêm Thành hứa sẽ gả Công Chúa Huyền Trân cho Chế Mân. Với vinh dự được làm rể Đại Việt, Chế Mân dâng hai châu thuộc địa phận Thuận Hóa để làm lễ cưới (năm 1306). Cuộc hôn nhân chưa được một năm thì Chế Mân chết, và theo tục lệ Chiêm Thành, Hoàng Hâu Huyền Trân phải hỏa thiêu để chết theo. Mặc dầu vậy vua Nhà Trần đã tìm cách giải thoát cho Công Chúa. Cũng vì mâu thuẫn này mà các vua Chiêm Thành từ Chế Chỉ và Chế Bồng Nga đã lấy cớ đem quân tàn phá Đại Việt trong 30 năm. Và sau này cuộc chiến tranh kéo dài trong suốt một thế kỷ từ đời vua Trần Nghệ Tông (1370) đến vua Lê Thánh Tông (1470). Kết cuộc năm 1471 dưới triều Hồng Đức Nguyên Niên, trong Chiến Dịch Bình Định, Đại Việt đã thôn tính lãnh thổ Chiêm Thành cả trên lục địa lẫn ngoài hải phận trong đó tọa lạc các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cuốn “Early Civilizations of Southeast Asia” của Sử Gia Dougald JW O’Reilly (Altamira Press U.S.A., 2007, trang 139) cũng xác nhận điều đó: “The Cham polity finally collapsed in 1471 with the capture of the capital Vijaya by the Viet”.

Ls. Nguyễn Hữu Thống

Posted on Tháng Sáu 10, 2014 by nguyenham

Bình luận: Muốn tránh chiến tranh cần phải chuẩn bị chiến tranh – Đại Dương (bài và âm thanh)

Friday, February 26th, 2021

Đại-Dương

Nghe âm thanh bài bình luận do Đỗ Hiếu đọc

Lục địa Châu Á có hai quốc gia đông dân nhất thế giới: Trung Quốc, Ấn Độ. Lục địa này còn có hai nền kinh tế đứng thứ hai và thứ ba toàn cầu: Trung Quốc, Nhật Bản.

(more…)