Sáng kiến kinh tế Ấn độ Dương – Thái Bình Dương – CSIS 

Thursday, May 26th, 2022

Unpacking the Indo-Pacific Economic Framework Launch

CSIS ngày 23/5/2022

Photo: SAUL LOEB/AFP/Getty Images

Hoa Kỳ đã lựa chọn các nhà đàm phán cho Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Biden

(more…)

15 năm ấy… Phạm Chí Dũng – VNTB

Thursday, February 17th, 2022
Phạm Chí Dũng trong một cuộc biểu tình chống Trung Cộng
(more…)

Việt Nam nằm đâu trong Chiến lược Ấn Độ – Thái Bình Dương Mỹ mới công bố?

Wednesday, February 16th, 2022

Phân tích của Trần Tái Phùng
16/02/2022

Việt Nam nằm đâu trong Chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương Mỹ mới công bố?

Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken phát biểu về Chiến lược Ấn Độ Thái Bình Dương của Mỹ ở Jakarta hôm 14/12/2021 /AP 

(more…)

Không… Không… Không (Đại-Dương)

Tuesday, September 14th, 2021
Nghe âm thanh
(more…)

Vài thắc mắc dành cho sứ quán Trung Quốc – Đặng Sơn Duân

Saturday, August 28th, 2021

27/8/2021

https://1.bp.blogspot.com/-cJDnRA8-lF4/YSktExvwUZI/AAAAAAAAt2A/G-tVc28hiXgremYLxM1WJy6adF90PbTXwCLcBGAsYHQ/w400-h268/kamala_03.jpg

Sau khi Phó tổng thống Mỹ Kamala Harris kết thúc chuyến thăm Việt Nam, Đại sứ quán quý quốc nhanh chóng ra tuyên bố bày tỏ lập trường đối với các phát biểu được cho là công kích Trung Quốc.

(more…)

Tin tức thế giới ngày Chủ nhật 22 tháng 8 năm 2021 – Võ Thái Hà tổng hợp

Sunday, August 22nd, 2021

Phó tổng thống Mỹ Kamala Harris đến Singapore, bắt đầu chuyến công du Đông Nam Á

22/8/2021

Phó tổng thống Mỹ Kamala Harris tới Singapore, ngày 22/08/2021. REUTERS – EVELYN HOCKSTEIN

(more…)

Bà Harris thăm ASEAN sau khi Mỹ rút khỏi Afghanistan: Tại sao Việt Nam được ưu tiên lựa chọn?

Saturday, August 21st, 2021

Phụng Minh | DKN

Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris (ảnh: Youtube/BETNetworks).
(more…)

Bộ trưởng Austin thăm VN: Xây dựng lòng tin để củng cố quan hệ quốc phòng – Lê Hồng Hiệp

Wednesday, July 28th, 2021

Secretary Austin’s Visit to Vietnam: Building Trust to Strengthen Defence Ties

Phiên bản tiếng Anh của bài viết đã được xuất bản trên Fulcrum.sg.

Published 28 Jul 2021

Tác giả: Lê Hồng Hiệp

(more…)

Gs. Carl Thayer: Việt Nam nên “tự giúp mình” để đối phó với Trung Quốc

Wednesday, June 9th, 2021

07/6/2021

Ảnh minh họa: Một hoạt động diễn tập chung của lực lượng cảnh sát biển Việt Nam và Nhật bản ngày 16/6/2017

Ảnh: AFP

Bốn nước ASEAN ven biển Đông là Việt Nam, Philippines, Malaysia và Indonesia cần phải hợp tác để chống lại chiến thuật “Vùng xám” của Trung Quốc– Giáo sư (GS) Carl Thayer từ Học viện Quốc phòng Australia tại Canberra đã nhận định như vậy trong một trao đổi gần đây với RFA. Mời quý vị cùng theo dõi:

(more…)

Quốc Hận 30-4 Lần Thứ 46 – Thái Hóa Lộc

Thursday, April 29th, 2021
Nghe âm thanh do Đỗ Hiếu đọc….

Mỗi năm cứ đến ngày 30 tháng 4, những người ở thế hệ thứ nhất và một rưỡi đều nhớ những ngày chạy giặc miền Bắc, nhớ “kinh tế mới”, nhớ “trại tập trung”, nhớ ” đánh tư sản mại bản”…; và nhớ sóng gió đại dương, nhớ hải tặc, nhớ hiếp dâm, nhớ những ngày dầm mình dưới biển hàng tháng để trốn khỏi bị hải tặc hiếp dâm ngoài hoang đảo, nhớ cảnh vợ, con gái bị hải tặc hiếp, chồng, cha chống cự thì bị đập chết quăng xác xuống biển…Sau 46 năm những hình ảnh kinh hoàng ngày cũ vẫn còn ám ảnh đối với người Việt tị nạn trong tâm tư bàng hoàng và đau xót… 

(more…)

46 năm nhìn lại Truyền Thông Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam và ngày nay – Thái Hóa Lộc

Wednesday, April 21st, 2021
Nghe âm thanh do Đỗ Hiếu đọc

Thái Hóa Lộc

Những người lính Việt Nam Cộng Hòa và những người Việt tị nạn Cộng Sản mỗi lần Tưởng niệm ngày Quốc Hận 30-4 đều ngậm ngùi nhớ về dĩ vãng đau thương, ngày Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử và những thảm họa xảy ra sau đó. Ngày mà hàng vạn người bỏ xác nơi rừng sâu, vùi thân dưới đại dương chấp nhận cái chết để tìm tự do và còn nhiều oan khiên khác trong các trại tù Cộng sản, nơi đày ải các cựu quân, cán chính Việt Nam Cộng Hòa. Hậu quả đã đưa đến thảm trạng này cho đến ngày nay không ai có thể phủ nhận vai trò truyền thông Hoa Kỳ đã trực tiếp làm đảo ngược tình hình thực tế và đưa đến sự suy vong của Việt Nam Cộng Hòa.

Nếu năm 1950 chỉ có khoảng dưới 10% gia đình Mỹ có truyền hình thì đến năm 1966, khi cuộc chiến Việt Nam leo thang và có khoảng hơn 400 ngàn lính Mỹ đang tham chiến tại Việt Nam với khoảng sáu ngàn binh sĩ tử trận, đã có hơn 90% gia đình Mỹ có truyền hình và theo dõi tin tức chiến sự từ Việt Nam qua truyền hình. Truyền thông với cuộc chiến truyền hình (television war) đã đóng vai trò và ảnh hưởng gì đến kết quả cuộc chiến? Các phương tiện kỹ thuật và nghiệp vụ tân tiến hơn gấp bội so với Đệ Nhị Thế Chiến, các ký giả trẻ luôn muốn có những tấm ảnh, thước phim hay các phóng sự trực tiếp và đầu tiên đến công chúng Mỹ và thế giới. Các thước phim thu được đã nhanh chóng chuyển về Tokyo để hoàn tất các bước kỹ thuật và biên tập cần thiết và chuyển về Mỹ để phát sóng hay có thể dùng vệ tinh cho các bản tin nóng sốt, được đăng báo hay phát trên truyền hình, nơi người dân Mỹ có thể theo dõi chiến cuộc cùng tin tức con cái họ ngay trong phòng khách của mình.

Các phong trào nhân quyền phát triển mạnh mẽ hơn, một trong điều được giới sử gia nhìn nhận là truyền thông trong chiến tranh Việt Nam đã không bị kiểm duyệt nhờ vào quyền tự do báo chí. Không chỉ theo dõi các hình ảnh, các phóng sự, công chúng Mỹ còn dựa vào các bình luận của những nhà bình luận chính trị và phân tích thời cuộc. Hàng loạt các tên tuổi truyền thông gạo cội của Hoa Kỳ được biết đến từ thời chiến tranh Việt Nam.

Chính vì vậy mà tin tức và diễn biến của chiến tranh Việt Nam đã áp đảo tại Mỹ trong nửa cuối thập niên 60s tại Mỹ đã gây nên cảm xúc và ảnh hưởng đến nhìn nhận của đại chúng. Lần đầu tiên người dân Mỹ chứng kiến những hình ảnh và thước phim hoặc nguyên thủy hay kịch tính hóa về sự khốc liệt, bạo tàn của chiến tranh với hình ảnh gian khổ, nguy hiểm rồi thương tích, chết chóc của người lính đánh động vào người xem rất lớn, dẫn đến làn sóng phản đối chiến tranh khi con số tử vong của binh sĩ Hoa Kỳ cùng chi phí chiến tranh ngày càng tăng cao.

Những người chống chiến tranh cho rằng đó là một cuộc chiến không cần thiết và người lính Mỹ chết tại nơi xa lạ nào đó không phải để bảo vệ cho chính họ, cho chính nước Mỹ. Mà nó là sự sai lầm của chính phủ để bị sa lầy vào một cuộc chiến thoạt đầu ngỡ chỉ là một cuộc thanh trừng phiến quân sẽ nhanh chóng kết thúc khi 3,500 lính Thủy Quân Lục Chiến thiện chiến được chỉ huy bởi những cấp chỉ huy tài ba trong chiến tranh Triều Tiên hay Đệ Nhị Thế Chiến đổ bộ xuống Đà Nẵng vào tháng Ba năm 1965. Truyền thông nghĩ rằng họ chỉ làm công việc tường trình chiến tranh còn các quyết định hay chiến lược là từ Ngũ Giác Đài và các đời tổng thống. Họ không có thẩm quyền hay khả năng can dự, bắt đầu hay kết thúc cuộc chiến ngoài việc thực hiện vai trò của mình. Truyền thông Hoa Kỳ đã không công bình và trung thực khi đưa tin và hoàn toàn gây mất thiện cảm với người dân Hoa Kỳ nhất là những gia đình có con cái hoặc thân nhân tham chiến tại Việt Nam.

Không ít người cho rằng truyền thông đã góp phần ảnh hưởng và chịu trách nhiệm về sự thất bại của cuộc chiến Việt Nam. Sau gần nửa thế kỷ, có vô số lý do và sự thật về cuộc chiến Việt Nam vẫn đang còn là điều gây tranh cãi, khó lòng thỏa mãn cho tất cả những bên dự phần. Nhìn vào vai trò và trách nhiệm ở mỗi góc khác nhau, kể cả vai trò của truyền thông Hoa Kỳ, sẽ cho người ta ghép lại phần nào bức tranh toàn cảnh của cuộc chiến đầy ám ảnh này…

Truyền thông Hoa Kỳ ngày nay đã biến dạng đang hướng dẫn quần chúng Mỹ theo đường lối có chủ đích mà họ muốn. Sức mạnh truyền tin và sức mạnh big tech đang làm lũng đoạn chính trị và đường lối của Hoa Kỳ rất trầm trọng. Chính vì vậy theo Breitbart đưa tin Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Josh Hawley vào ngày 19/4 đã giới thiệu một dự luật nhắm mục tiêu vào các công ty Big Tech, bao gồm việc kiểm soát các hành vi bị lên án trong thời gian qua của Amazon và Google. Dự luật cấm Big Tech vận hành công cụ tìm kiếm, thị trường và sàn giao dịch bán hoặc quảng bá hàng hóa và dịch vụ của chính họ thông qua các thị trường và công cụ tìm kiếm nói trên. Nếu được thông qua, đây sẽ là một đòn giáng mạnh vào Amazon và Google, những công ty thường xuyên tham gia vào cả hai hoạt động này.

Trong một điều khoản khác có vẻ như được thiết kế riêng để kiềm chế Amazon và Google, dự luật cấm các công ty cung cấp công cụ tìm kiếm, thị trường và sàn giao dịch đối với “dịch vụ lưu trữ và cơ sở hạ tầng internet” cho các bên thứ ba.Theo đạo luật này, Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC) sẽ giám sát việc tuân thủ các quy định đối với Big Tech. Tổng chưởng lý của tiểu bang và các thực thể bị thiệt hại do các công ty công nghệ vi phạm luật được trao quyền khởi kiện.Amazon đang dẫn đầu thị trường về dịch vụ lưu trữ đám mây, trong khi Google điều hành một dịch vụ tương tự có tên là Google Cloud. Google cũng vận hành Google Fiber, cung cấp Internet băng thông rộng và IPTV trên toàn quốc.Amazon đã đơn phương chấm dứt hợp đồng cung cấp dịch vụ lưu trữ đám mây cho Parler, một mạng xã hội ủng hộ quyền tự do ngôn luận. Trong khi đó Google bị cáo buộc kiểm duyệt thông tin dựa trên quan điểm chính trị và có mối quan hệ mờ ám với Đảng Cộng sản Trung Quốc.Thượng nghị sĩ Hawley cho biết: “Các công ty Big Tech như Google và Amazon đã được các chính trị gia ở Washington nâng đỡ trong nhiều năm”. “Kiểu cư xử này đã cho phép họ tích lũy được lượng quyền lực khổng lồ mà họ sử dụng để kiểm duyệt các quan điểm chính trị mà họ không đồng ý và loại bỏ các đối thủ cạnh tranh cung cấp cho người tiêu dùng một giải pháp thay thế cho hiện trạng”.Ông cho biết thêm: “Đã quá đủ để loại bỏ các công ty của Big Tech, khôi phục sự cạnh tranh và trao lại quyền lực cho người tiêu dùng Mỹ”.Truyền thông ngày nay không còn là truyền tin nữa , mà là cơ quan tuyên truyền cho đảng phái, phe nhóm. Người xem cũng biết rõ mình muốn nghe cái gì; không còn trung thực nữa.

Trung tâm Nghiên cứu Truyền thông (MRC) đã xem xét cách thức các đài ABC, CBS và NBC đưa tin về nhiệm kỳ tổng thống của ông Trump và ông Biden từ ngày nhậm chức đến ngày 9/4.MRC kết luận rằng “Trong ba tháng đầu tiên nắm quyền, các bản tin phát sóng buổi tối đã đưa 59% tin tích cực cho ông Biden. Bốn năm trước, chính những chương trình này đã tấn công ông Trump với 89% tin tiêu cực – đây là một sự tương phản đáng ngạc nhiên”.

Cụ thể Trung tâm MRC cho biết: “Bốn năm trước, ông Trump đã phải đối mặt với việc bị báo chí đưa tin tiêu cực từ đầu nhiệm kỳ. Theo ghiên cứu  vào thời điểm đó cho thấy ba bản tin buổi tối đưa 89% tin tiêu cực về Tổng thống mới, một sự thù địch chưa từng có thể hiện cách tiếp cận của giới truyền thông trong bốn năm tiếp theo của cựu TT Trump. Ngày nay, Tổng thống Biden có bối cảnh truyền thông thân thiện hơn nhiều. Nhìn chung, trong những tuần đầu tiên, chúng tôi nhận thấy tin tích cực về chính quyền Biden là 59%, tiếp nối cho cách đưa tin tích cực của các đài này với ông Biden trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm ngoái”.

Nghiên cứu của MRC chỉ ra mức độ đưa tin tích cực cho TT Biden phụ thuộc vào các chủ đề khác nhau. Ví dụ, các phương tiện truyền thông đã đưa tin rất tích cực về cách chính quyền Biden phản ứng với COVID-19, dự luật cứu trợ COVID khổng lồ trị giá 1,9 nghìn tỷ USD và dự luật cơ sở hạ tầng trị giá 2,25 nghìn tỷ USD do ông Biden đề xuất. Các chủ đề khác, như việc chính quyền Biden giải quyết cuộc khủng hoảng biên giới phía Nam và kiểm soát súng, hầu hết đều nhận được tin tức tiêu cực từ báo chí.

Hoa Kỳ ngày nay không còn cơ quan truyền thông nữa mà chỉ có các cơ quan tuyên truyền thôi và các mạng xã hội lại có điều kiện xuất hiện khắp nơi tha hồ tung tin fake news – tin giả. Ai muốn nghe phe nào cũng có tùy theo thị hiếu của mình.

Thử tìm một lộ trình đấu tranh vì Tự Do Dân Chủ cho Dân Tộc Việt Nam – Đại Dương

Thursday, April 15th, 2021
Nghe âm thanh do Đỗ Hiếu đọc

                                                                 Đại-Dương

Chiếc xe tăng của Cộng quân húc sập cổng Dinh Độc Lập ngày 30/04/1975 đã dè đẹp khát vọng độc lập, tự do, dân chủ của của dân tộc Việt Nam vì Cộng sản xé nát Hiệp ước Paris 1973 quy định lộ trình Hoà giải Hoà hợp Dân tộc.

Thực tế não nùng

Hoà giải Hoà hợp Dân tộc chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn khi dân Việt Nam Cộng Hoà “nhận họ” và người Miền Bắc cũng như từ bưng biền “nhận hàng”.

(more…)

Vấn đề đường cơ sở thẳng của Việt Nam nhìn từ Luật biển quốc tế – Dương Danh Huy

Saturday, February 6th, 2021

4/2/2021

Gần đây,  Hạm đội 7 của Hải quân Hoa Kỳ cho chiến hạm USS John S. McCain chạy sát Côn Đảo nhằm “thách thức các yêu sách hàng hải quá mức”. Tạp chí Nghiên cứu Việt Mỹ, Đại học Oregon, xin giới thiệu bài phỏng vấn TS. Dương Danh Huy, một trong những thành viên sáng lập Quỹ Nghiên cứu Biển Đông về vấn đề này.

I. Đường cơ sở thẳng của Việt Nam

Sau khi Việt Nam ra tuyên bố đường cơ sở thẳng để tính chiều rộng lãnh hải năm 1982, có 10 nước phản đối (Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Anh, Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Mỹ, Nhật Bản, Úc), tập trung vào các điểm từ A1 đến A7. Ngày 24 tháng 12 năm 2020, Hạm đội 7 của Hải quân Hoa Kỳ cho chiến hạm USS John S. McCain chạy sát Côn Đảo để thực hiện quyền tự do hàng hải, nhằm “thách thức các yêu sách hàng hải quá mức”. Xin ông giải thích lý do họ phản đối.

Dương Danh Huy

Cảm ơn tạp chí US Vietnam Review đã đặt vấn đề về đường cơ sở của Việt Nam.

Đường cơ sở của một nước tương đương với biên giới trên bộ của nước đó. Nước đó có quyền tuyệt đối bên trong đường cơ sở của mình. Bên ngoài đường cơ sở, bề rộng của các vùng nước của nước đó, chẳng hạn như lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế, được tính từ đường cơ sở. 

Đường cơ sở mặc định là ngấn thủy triều thấp dọc bờ biển, nhưng trong một số trường hợp UNCLOS cho phép vạch đường cơ sở thẳng cách bờ. Việc một nước vạch đường cơ sở càng xa bờ có nghĩa nước đó đòi hỏi càng nhiều quyền lợi, giảm đi quyền lợi của các nước khác. Nếu các nước khác cho rằng đường cơ sở đó không phù hợp với UNCLOS và quyền lợi của họ bị vi phạm thì họ có thể phản đối, tùy theo mức độ nghiêm trọng.

Trên thực tế, có một số nước, trong đó có Việt Nam, vạch đường cơ sở một cách không phù hợp với UNCLOS và bị các nước khác phản đối. Trong trường hợp của Việt Nam, đường cơ sở của Việt Nam không phù hợp với UNCLOS và lấn ra biển rất nhiều. 

Các điểm 2, Điều 12 của Luật Biển Việt Nam 2012 quy định “tàu thuyền của tất cả các quốc gia được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam” mà không cần xin phép hay thông báo. Còn “tàu quân sự nước ngoài khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam” thì cần “thông báo trước”. Như vậy, mức độ yêu cầu của Việt Nam chỉ là “thông báo” chứ không cần “xin phép”. Vậy tàu chiến Mỹ có vi phạm pháp luật Việt Nam hay không?

Dương Danh Huy

Có hai vấn đề khác nhau. Ở những khu vực mà Việt Nam tuyên bố lãnh hải một cách phù hợp với UNCLOS, Mỹ vẫn có quyền “đi qua không gây hại” mà không cần phải thông báo trước với Việt Nam. Ở những khu vực mà Việt Nam tuyên bố lãnh hải một cách không phù hợp với UNCLOS, Mỹ có quyền tự do hàng hải. Khi Mỹ thực thi những quyền này trong những khu vực hữu quan, điều đó vi phạm pháp luật Việt Nam nhưng không vi phạm UNCLOS.

Việt Nam cũng đã trình Hồ sơ thềm lục địa mở rộng lên UN dựa trên đường cơ sở này. Đây là hồ sơ chung với Malaysia. Có nước nào phản đối đăng ký thềm lục địa mở rộng của Việt Nam trong hồ sơ này vì lý do dựa trên đường cơ thẳng vi phạm UNCLOS hay không?

Dương Danh Huy

Theo tôi nhớ thì không có phản đối của nước nào dựa trên lý do đường cơ sở thẳng của Việt Nam không phù hợp với UNCLOS. Nhưng cần lưu ý rằng không có sự phản đối dựa trên lý do đó không có nghĩa là các nước khác chấp nhận đường cơ sở thẳng của Việt Nam. 

Vấn đề là hồ sơ thềm lục địa mở rộng là về ranh giới ngoài của thềm lục địa mở rộng, và ranh giới ngoài đó không thay đổi, và tính hợp pháp của nó không thay đổi, dù Việt Nam có vạch đường cơ sở thẳng 1982 hay không.

Việt Nam sử dụng điểm A1 (hòn Nhạn, đảo Thổ Chu trong Vịnh Thái Lan) và A3, A4 (hòn Tài Lớn, hòn Bông Lang của Côn Đảo, trên Biển Đông) làm điểm chuẩn để vẽ đường cơ sở. Đường cơ sở này đã mở rộng EEZ và thềm lục địa của Việt Nam. Nếu vẽ lại một đường cơ sở khác, chạy theo các điểm trên đất liền hoặc gần bờ hơn, EEZ và thềm lục địa Việt Nam sẽ bị thu hẹp lại. Vậy Việt Nam có nên đòi hỏi hiệu lực đảo cho Côn Đảo (trên Biển Đông) để tiếp tục mở rộng EEZ và thềm lục địa hay không? Việc này có khả thi về mặt luật biển quốc tế không?

Dương Danh Huy

Như tôi nói trên, dù Việt Nam có vạch đường cơ sở thẳng 1982 hay không thì ranh giới ngoài của thềm lục địa mở rộng cũng không thay đổi. Theo tôi, Đảo Côn Đảo hoàn toàn đáp ứng quy chế “đảo” của UNCLOS và được hưởng quy chế EEZ và thềm lục địa mở rộng nếu có thềm lục địa bên ngoài 200 hl. Do đó việc Việt Nam vận dụng Côn Đảo để đòi hỏi một EEZ vươn ra cách đất liền hơn 200 hl là hoàn toàn hợp pháp. 

Khu vực bãi Tư Chính mà Việt Nam đang khai thác dầu khí nằm cách đất liền khoảng 250 hải lý. Nhưng do Việt Nam sử dụng một số thực thể địa lý ở Côn Đảo để vẽ đường cơ sở, cho nên 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam cũng được đẩy ra xa hơn, do đó, bãi Tư Chính cũng nằm lọt vào 200 hải lý thềm lục địa ấy. Theo ông, điều này có thể gây rủi ro gì về mặt pháp lý cho Việt Nam không?

Dương Danh Huy

Khu vực mà Việt Nam đang khai thác dầu khí ông nói tới có lẽ là Nam Côn Sơn, vì Việt Nam chưa khai thác dầu khí ở Bãi Tư Chính. 

Nếu Việt Nam không dùng một số thực thể địa lý ở Côn Đảo để vạch đường cơ sở thẳng thì khu vực đang khai thác vẫn nằm trong EEZ thuộc Côn Đảo. 

Do đó, việc vạch các đường cơ sở thẳng đó là không cần thiết, và tuy nó không phù hợp với UNCLOS, nó cũng không phải là rủi ro pháp lý cho việc khai thác.

Như vậy theo ông, Việt Nam nên sửa đường cơ sở thẳng cho phù hợp hơn với luật pháp quốc tế. 

Dương Danh Huy

Tôi cho rằng Việt Nam nên làm điều đó. Việt Nam cần vận động thế giới chống lại những yêu sách phi pháp của Trung Quốc. Luật quốc tế, đặc biệt là UNCLOS, là một yếu tố quan trọng trong sự vận động đó. Nếu mình vận dụng UNCLOS để vận động thế giới, nhưng chính mình lại duy trì những yêu sách vi phạm UNCLOS thì cũng đáng ngượng.

II. Côn Đảo và phương án thay thế cho đường cơ thẳng hiện nay của Việt Nam 

UNCLOS quy định rằng những vùng nước xưa kia không thuộc nội thủy, sau này trở thành nội thủy thì tàu bè các nước vẫn được đi qua không gây hại. (Article 8, UNCLOS). Trường hợp Côn Đảo trên Biển Đông hay Thổ Chu trong vịnh Thái Lan thì thế nào? Ngay cả khi tàu chiến Mỹ đi trong nội thủy của Côn Đảo hay Thổ Chu thì họ có đúng luật không? Việt Nam nên làm gì trong trường hợp này?

Dương Danh Huy

Trọng tậm của vấn đề không phải là nội thủy của nhóm đảo Côn Đảo hay nhóm đảo Thổ Chu nếu nội thủy đó đươc xác định một cách phù hợp với UNCLOS, mà là Việt Nam vạch các đường cơ sở thẳng từ Hòn Nhạn (nhóm Thổ Chu) đến Hòn Đá Lẻ (gần Hòn Khoai, Cà Mau), đến Hòn Tài Lớn, Hòn Bông Lang, Hòn Bảy Cạnh (nhóm Côn Đảo), và từ đó đến Hòn Hải (nhóm Phú Quý), vv.. 

Với các đường cơ sở thẳng đó, Việt Nam cho rằng vùng biển rất rộng giữa các điểm này và đất liền là nội thủy của mình. Mỹ không chấp nhận yêu sách đó và sự không chấp nhận của họ phù hợp với UNCLOS.

Nếu không sửa lại đường cơ sở của mình cho hợp pháp, Việt Nam nên im lặng. Nếu lên tiếng phản đối Mỹ, Việt Nam sẽ vô hình chung đứng vào phe Trung Quốc trong việc vi phạm UNCLOS về tự do hàng hải trong Biển đông, chống lại nỗ lực của Mỹ và nhiều nước trong việc duy trì quyền tự do hàng hải trong khu vực, và như thế sẽ bất lợi cho Việt Nam trên mặt chiến lược.

Thổ Chu trên Vịnh Thái Lan và Bạch Long Vĩ trên Vịnh Bắc Bộ có phải là những trường hợp tương tự như Côn Đảo hay không? Theo Hiệp định về phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa Việt Nam và Thái Lan (Xem tại đây hoặc tại đây hoặc tại đây và Các tuyên bố khác của Việt Nam tại đây), đảo Thổ Chu được coi là đảo và được hưởng 32,5% hiệu lực so với đất liền của Thái Lan. Trong Vịnh Bắc Bộ, Bạch Long Vĩ được hưởng 25% hiệu lực đảo. Theo ông, phân chia như vậy có công bằng hay không?

Dương Danh Huy

Vùng chồng lấn Việt Nam-Thái Lan phát sinh từ yêu sách 1971 của VNCH, cho rằng Đảo Thổ Chu có 100% hiệu lực, và yêu sách 1973 của Thái Lan, cho rằng Đảo Thổ Chu không có hiệu lực. Với Hiệp định Việt Nam-Thái Lan, như ông nói, Đảo Thổ Chu được 32.5% hiệu lực và Việt Nam được 1/3 vùng chồng lấn. Theo tôi, có thể cho đó là công bằng.  

Tôi có nêu một số nghi vấn của tôi về hiệp định Vịnh Bắc Bộ trong một bài trên BBC. Nghi vấn của tôi về Đảo Bạch Long Vĩ là như sau:

Điểm 11, 12 [của đường phân định]: tương đương đương với đảo Bạch Long Vĩ được “dời vào” đất liền khoảng 75% khoảng cách. Mặc dù như thế phù hợp với quan điểm chính thức là đảo được khoảng 25% hiệu lực, nhưng điều đó lại có nghĩa hơn hai ngàn đảo của Việt Nam trong vùng Vịnh Hạ Long và Vịnh Bái Tử Long đã không được hay chỉ được ít hiệu lực trong việc tính hai điểm này.

Khó nói rằng nếu Đảo Bạch Long Vĩ được 25% hiệu lực thì có công bằng hay không, nhưng về hiệp định Vịnh Bắc Bộ nói chung, tôi đưa có ra những nghi vấn:

Tại sao điểm 9 nằm gần các đảo của Việt Nam hơn đất liền Trung Quốc?

Tại sao điểm 10 nằm gần các đảo của Việt Nam hơn các đảo của Trung Quốc? Nếu sự thật là tất cả các đảo này đã bị bỏ qua trong việc tính điểm 10 thì như thế có công bằng hay không?

Với quan điểm chính thức là đảo Bạch Long Vĩ được khoảng 25% hiệu lực, có vẻ như là hơn hai hàn ngàn đảo của Việt Nam trong vùng Vịnh Hạ Long và Vịnh Bái Tử Long đã không được hay chỉ được ít hiệu lực trong việc tính hai điểm 11, 12. Sự thật là thế nào và nếu đúng là như thế thì có công bằng hay không?

Tại sao vùng cửa Ba Lạt đã không được tính tới trong việc tính điểm 12.

Tại sao các điểm 13, 14, 15, 16, 17, 18 nằm gần đất liền Việt Nam hơn đảo Hải Nam?

Và tôi cho rằng “quan điểm cho rằng hiệp định Vịnh Bắc Bộ năm 2000 là công bằng, vẫn chưa [có tính] thuyết phục”.

Nếu Thổ Chu (trên Vịnh Thái Lan) và Bạch Long Vĩ (trên Vịnh Bắc Bộ) là đảo, thì ông đánh giá như thế nào về trường hợp Côn Đảo trên Biển Đông? Việc chứng minh Côn Đảo là “đảo” có phức tạp không? Nó có thể có 200 hải lý EEZ và thềm lục địa không?

Dương Danh Huy

Như tôi đã nói, theo tôi, Đảo Côn Đảo hoàn toàn đáp ứng quy chế “đảo” của UNCLOS và được hưởng quy chế EEZ và thềm lục địa mở rộng nếu có thềm lục địa bên ngoài 200 hải lý. 

Tuy nhiên, có một sự phức tạp từ một khía cạnh khác. Đó là EEZ thuộc Côn Đảo có chồng lấn với EEZ mà Indonesia yêu sách. 

Năm 2003 Việt Nam và Indonesia đã phân đáy biển giữa hai nước, nhưng Indonesia không chấp nhận dùng ranh giới cho đáy biển làm ranh giới cho cột nước, và hai bên còn đàm phán phân định cột nước. 

Tôi đoán rằng Indonesia viện cớ họ là quốc gia quần đảo cho nên Đảo Laut của họ (phía Bắc Đảo Natuna) phải được 100% hiệu lực, và Việt Nam không phải là quốc gia quần đảo cho nên Côn Đảo không được 100% hiệu lực.

Từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2019, Trung Quốc tổ chức một đợt xâm nhập vào khu vực bãi Tư Chính của Việt Nam. Khi Việt Nam phản đối, họ nói bãi Tư Chính thuộc Trường Sa của họ. Có thể thấy đây là một chiến thuật mới. Họ có thể áp dụng lập luận này cho cả Vũng Mây và bồn trũng Nam Côn Sơn. Ông đánh giá như thế nào về lập luận này trên cơ sở luật pháp quốc tế?

Dương Danh Huy

Đó là loại “lập luận rừng” mà phiên tòa Phi-Trung đã bác bỏ.

Xin cảm ơn ông đã dành cho Tạp chí Nghiên cứu Việt Mỹ bài trả lời phỏng vấn này.

Trung Cộng Đang Xây Một Căn Cứ Hỏa Tiễn Đất Đối Không Gần Biên Giới Việt Nam

Thursday, February 4th, 2021

February 4, 2021 

February 3, 2021

Ảnh vệ tinh và phân tích từ đối tác của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông cho thấy một căn cứ tên lửa đất đối không đang được hoàn tất ở huyện Ninh Minh thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, cách biên giới Việt Nam khoảng 20 km.

Ảnh vệ tinh phân tích mà Dự án Đại Sự Ký Biển Đông nhận được cho thấy một căn cứ tên lửa đất đối không (surface to air missile – SAM) đang được hoàn tất cách biên giới Việt Nam khoảng 20 km, cách công trình được cho là một sân bay trực thăng quân sự đang được xây dựng khoảng 40 km.

Tên lửa đất đối không được phát triển để bảo vệ các vị trí trên mặt đất khỏi các cuộc tấn công thù địch trên không, đặc biệt là các máy bay ném bom tầm cao bay ngoài tầm bắn của pháo phòng không thông thường.

Dường như Trung Quốc đang lặp lại mô hình mà nước này đã xây dựng ở gần biên giới Ấn Độ và cao nguyên Tây Tạng, với vị trí phòng không bằng tên lửa đất đối không cho phép đánh chặn các cuộc tấn công thù địch trên không, và sân bay trực thăng quân sự cho phép triển khai nhiều hoạt động quân sự linh hoạt trong mọi điều kiện địa hình và thời tiết khắc nghiệt. Dù vậy, hiện tại quy mô mô hình Trung Quốc thực hiện ở gần biên giới với Việt Nam còn nhỏ hơn rất nhiều so với những gì Trung Quốc đã triển khai suốt dọc biên giới với Ấn Độ.

Vị trí của căn cứ tên lửa đất đối không và công trình bị nghi là sân bay trực thăng quân sự so với biên giới Việt Nam. Dữ liệu toạ độ do đối tác của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông cung cấp.

Công trình bị nghi là sân bay trực thăng quân sự đang được xây dựng cách biên giới Việt Nam khoảng 60 km.

Dữ liệu vệ tinh hệ thống hoá cho thấy căn cứ tên lửa đất đối không được bắt đầu xây dựng trong khoảng thời gian từ tháng 6/2019, tới nay đã gần hoàn thành.

Chúng tôi sẵn sàng cung cấp số liệu toạ độ của hai công trình trên cho những độc giả quan tâm một cách nghiêm túc và có danh tính rõ ràng. Mời gửi yêu cầu về địa chỉ email sukybiendong@gmail.com.Trung Quốc Đang Xây Một Căn Cứ Tên Lửa Đất Đối Không Gần Biên Giới Việt Nam