Từ cướp 1945 đến chiếm 1975

Wednesday, September 1st, 2021
Quang cảnh Nhà hát lớn Hà Nội ngày Việt Minh cướp chính quyền 19/8/1945. Ảnh: internet

Bởi AdminTD -31/08/2017

Phạm Trần – 31-8-2017

(more…)

Chuyện “lạ mà quen” nhân chuyến thăm Việt Nam của Phó Tổng thống Kamala Harris – Trần Hưng Đạo

Thursday, August 26th, 2021

Phó tổng thống Mỹ Kamala Harris và Thủ tÆ°á»›ng Phạm Minh Chính ở Hà Ná»™i hôm 25/8/2021 – Reuters

(more…)

Thảm cảnh Covid Vũ Hán tại Việt Nam

Saturday, July 31st, 2021

Sài Gòn:  tang thương trong tuyệt vọng – Đỗ Duy Ngọc

30/7/2021

Những đoàn người khổ sở tháo chạy khỏi Sài Gòn (ảnh: MXH)

Dù là người lạc quan, không chấp nhận chữ “toang” và “bùng” ở Sài Gòn, nhưng đến hôm nay, phải chấp nhận một sự thật là Sài Gòn tang thương như chưa bao giờ thấy. Kể cả trong thời chiến tranh và trong thời điểm đói nghèo sau 1975… Đã qua thời gian dài giãn cách rồi giới nghiêm, từ Chỉ thị 15, rồi 16 rồi phong toả, con số người nhiễm bệnh và tử vong ở Sài Gòn vẫn không ngừng tăng. Rất nhiều khu vực bị cách ly dài ngày, rất nhiều biện pháp, chỉ thị được đưa ra, nhưng bất lực. Không biết bao nhiêu clip, bao nhiêu tin nhắn, bao nhiêu hình ảnh đã cho thấy một Sài Gòn với nhiều bi kịch.

Những thước phim kinh khủng trôi qua khắp ngõ ngách Sài Gòn

Cảnh nhếch nhác, thiếu phương tiện ở các khu cách ly, cảnh người chết đắp chiếu, người bệnh hấp hối trong phòng của bệnh viện chuyên điều trị người dính Covid-19 mà không có một ai chăm sóc, tiếng kêu vô vọng của người đàn ông trong căn phòng đầy những người chờ chết. Cảnh hàng đoàn xe chở xác người chờ vào lò thiêu ở Bình Hưng Hoà. Tiếng kêu tuyệt vọng của một cô gái bên xác mẹ vừa qua đời. Câu nhắn tin cuối cùng của một cô gái thiện nguyện trước lúc lìa đời…

Cảnh một thanh niên được để trên xe đẩy hàng đưa ra từ con hẻm nhỏ ở quận 4, anh ta yếu lắm rồi, không thở nổi, xe đón anh là một chiếc xe vận tải nhỏ chở hàng do y tế đưa xuống, không bình oxy, không có một thiết bị cấp cứu nào, anh được dìu lên xe và ngồi thở dốc. Nghe nói sau đó anh đã không qua nổi và đã tử vong. Cảnh ba chiếc quan tài được đưa ra từ con hẻm nhỏ lên xe đi thiêu giữa buổi chiều nặng hạt. Cảnh người mẹ kêu gào xin cứu con trong khu cách ly… và biết bao cảnh đau thương nữa không viết ra hết.

(ảnh: MXH)

Và cảnh những người sống lê lết bên vỉa hè nhận hộp cơm từ thiện, ánh mắt ai cũng buồn, nụ cười của ai cũng méo xệch. Những cảnh bi đát ấy không thể tìm thấy trên báo chí hàng ngày, cũng sẽ không thấy trên tivi. Nhưng đó là những cảnh đời thực đang xảy ra hàng giờ trong lòng thành phố này. Đêm ở Sài Gòn giờ lặng im một cách đáng sợ và đêm Sài Gòn trong nhiều căn nhà, ngõ hẻm, góc phố, trong các khu cách ly, trong các bệnh viện có những con người lần lượt lìa trần trong lặng lẽ, những cảnh đau thương đầm đìa nước mắt.

Chính quyền tiếp tục ngụp lặn trong lúng túng

Cơn đại dịch như một trận cuồng phong kéo dài, nhà nước loay hoay với những kịch bản đối phó nhưng hình như chưa tìm được một liều thuốc hiệu nghiệm để ngăn chặn cơn dịch. Cứ cách ly, phong tỏa, giới nghiêm, giãn cách với các chỉ thị không còn giá trị với cuộc khủng hoảng. Đã đến lúc lựa chọn phải tập trung vào mục tiêu giảm tử vong, giảm người nhiễm bệnh. Chuyện tăng trưởng, phát triển phục hồi kinh tế cho chậm lại hoặc cũng có thể dừng lại khi không thể bắt cá hai tay trong thời kỳ dầu sôi lửa bỏng này, cứu người là chuyện khẩn cấp nhất.

Vừa qua, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Thành Phong đã ký quyết định thành lập Tổ tư vấn về chính sách phòng, chống dịch Covid-19 và phục hồi kinh tế với tám thành viên do TS Vũ Thành Tự Anh, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, Đại học Fulbright Việt Nam làm Tổ trưởng.

Tổ tư vấn có nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất giải pháp, biện pháp cho Chủ tịch UBND TP.HCM để thực hiện tốt công tác chống dịch, phục hồi sản xuất, qua đó góp phần thực hiện “mục tiêu kép”. Đây là danh sách tổ tư vấn:

– TS Vũ Thành Tự Anh, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, Đại học Fulbright Việt Nam (Tổ trưởng)

– TS Trương Minh Huy Vũ, Khu công nghệ phần mềm, Đại học Quốc gia TP.HCM (Tổ phó)

– PGS.TS Trần Hoàng Hải, giảng viên cao cấp, quyền Hiệu trưởng Đại học Luật TP.HCM

– PGS.TS Hoàng Công Gia Khánh, Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM

– TS Nguyễn Ngọc Nhã Nam, VNTI và Khu công nghệ phần mềm, Đại học Quốc gia TP.HCM

– PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, Đại học Fulbright Việt Nam

– Ông Nguyễn Xuân Thành, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, Đại học Fulbright Việt Nam

– PGS.TS Đỗ Văn Dũng, Đại học Y dược TP.HCM

Với ý kiến cá nhân, tôi nghĩ nên tách ra hai mục tiêu và hai tổ tư vấn khác nhau dù cả hai có thể tiến hành song song. Tổ chống dịch gồm y bác sĩ, các nhà khoa học tư vấn cho ủy ban các biện pháp chống dịch hiệu quả, nhanh chóng và thiết thực nhất. Tổ tư vấn kinh tế gồm các chuyên gia kinh tế đưa ra những ý kiến để phát triển kinh tế sau cơn dịch. Ở đây, nhìn vào tổ tư vấn chống dịch với tám người mà chỉ có một bác sĩ, còn lại toàn chuyên gia quản lý, giáo sư kinh tế với tiến sĩ phần mềm. Thế thì tư vấn chống dịch cái gì khi nhiệm vụ trước mắt là chống dịch? Các nhà lãnh đạo vẫn băn khoăn và đặt nặng việc phát triển, phục hồi kinh tế hơn là việc chống dịch. Bởi vậy việc đối phó với đại dịch cứ chạy loanh quanh và lâm vào bế tắc.

Những vành khăn tang

Mới đây, khi làm việc với ông chủ tịch nước, chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Thành Phong cho biết tính đến nay TP.HCM đã trải qua 61 ngày giãn cách xã hội theo các cấp độ khác nhau. Đánh giá việc thực hiện Chỉ thị 16 tăng cường, chủ tịch UBND TP cho biết việc hạn chế ra đường từ sau 18h đến 6h sáng được thực hiện nghiêm. Tuy nhiên, từ 6h sáng đến trước 18h, nhiều người vẫn ra đường mà không có lý do cần thiết.

Ông Phong nhận định khi thực hiện Chỉ thị 10 trên cơ sở Chỉ thị 15, số ca nhiễm tăng 6,1 lần so với khi áp dụng Chỉ thị 19. Khi áp dụng Chỉ thị 16, số ca mắc tăng bình quân 7,7 lần/ngày so với áp dụng Chỉ thị 10. Khi tiếp tục áp dụng Chỉ thị 10 thì số ca mắc bình quân tăng 1,5 lần so với khi áp dụng Chỉ thị 16. Như vậy, khi tiếp tục áp dụng Chỉ thị 16 thì tốc độ tăng ca mắc bình quân đã chậm lại, chỉ tăng 1,5 lần.

Thế nhưng, nếu xem con số thống kê người nhiễm bệnh và số tử vong thực tế, người ta sẽ có kết quả khác.

Ngày 18 Tháng Bảy có 4,693 ca

Ngày 19 Tháng Bảy có 3,074 ca

Ngày 20 Tháng Bảy có 3,322 ca

Ngày 21 Tháng Bảy có 3,556 ca

Ngày 22 Tháng Bảy có 4,218 ca

Ngày 24 Tháng Bảy có 5,396 ca

Ngày 25 Tháng Bảy có 4,555 ca

Ngày 26 Tháng Bảy có 5,997 ca

Ngày 27 Tháng Bảy có 6,318 ca

Ngày 28 Tháng Bảy có 4,449 ca

Ngày 29 Tháng Bảy có 4,592 ca

Qua những con số đó, chúng ta thấy chỉ qua 11 ngày từ 18 Tháng Bảy đến 29 Tháng Bảy, số người nhiễm bệnh không hề giảm dù thành phố đã dùng nhiều biện pháp để đối phó. Tính đến sáng 30 Tháng Bảy, trên địa bàn thành phố đã có 85,288 trường hợp mắc Covid-19 được Bộ Y tế công bố. Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật TPHCM cho biết, hiện các bệnh viện trên địa bàn thành phố đang điều trị cho 36,378 bệnh nhân dương tính, trong đó có 847 bệnh nhân nặng đang thở máy và 14 bệnh nhân can thiệp ECMO. Tính từ đầu năm đến nay, toàn thành phố đã có 1,057 bệnh nhân tử vong sau khi mắc virus, một con số không nhỏ. Và từ con số đó ta hình dung ra nỗi tang thương của nhiều gia đình ở thành phố này trong cơn đại dịch.

Nhưng thật ra con số tử vong ở thành phố không chỉ là con số người chết vì virus mà mỗi ngày còn biết bao nhiêu bệnh nhân chết vì những bệnh tật khác nhưng không được thống kê. Vì cách ly, phong tỏa, giới nghiêm và hệ thống liên lạc với các bộ phận y tế, với bệnh viện tắc nghẽn không liên lạc được hoặc chuông reo không ai trả lời. Vì hạn chế lưu thông cùng các phương tiện giao thông công cộng không được phép hoạt động.

Rất nhiều người mắc bệnh tim mạch, đột quỵ, tai biến, ruột thừa, viêm gan cấp tính, viêm cầu thận, tai nạn… không thể đến bệnh viện để cứu chữa kịp thời và họ đành lìa đời trong đau đớn và uất hận của thân nhân. Con số người chết này cũng liên quan gián tiếp từ Covid-19. Bệnh viện vắng hẳn người đến thăm khám, người bệnh mãn tính cũng không được tái khám, ngay cả người trong tình trạng cấp cứu khó khăn lắm mới đến được bệnh viện nhưng cũng không được quan tâm chữa trị như bình thường mà phải qua biết bao thủ tục và việc từ chối người bệnh là chuyện đã từng xảy ra.

Cách ly, phong tỏa kéo dài đã hai tháng, nhiều người, nhiều gia đình chẳng còn chi để sống qua ngày. Đã có hiện tượng lây nhiễm tập thể ở các khu dưỡng lão. Những trung tâm nuôi người già, trẻ em lâu nay sống nhờ lòng hảo tâm của bá tánh giờ đây lâm vào cảnh thiếu ăn. Đã đến lúc nhà nước nên tìm ra giải pháp tốt hơn là ra lệnh cấm đoán và giới nghiêm. Càng siết mạnh càng gây hoang mang và âu lo. Bữa cơm càng lúc càng vơi dần đi vì không còn phương sinh kế, ức chế vì bị tù túng và bế tắc vì không kiếm ra tiền mua rau gạo. Những thứ ấy khiến cho người dân dễ sinh ra bất mãn và có những hành vi thiếu kiểm soát.

Ngày mai ra sao?

Những đoàn người tìm cách bỏ thành phố lại sau lưng càng lúc càng nhiều. Họ ra đi với nhiều phương tiện có sẵn để tìm đường về quê. Họ rời thành phố với giọt nước mắt nhưng ngày về nhiều khi cũng chẳng có nụ cười. Quê nhà nhiều nơi cũng chẳng muốn đón nhận họ và nơi quê nhà họ cũng khó kiếm được bữa cơm. Tang thương không chỉ ở số người nhiễm bệnh, số người tử vong hàng ngày mà tang thương còn phủ lên đời sống của nhưng người đang còn lành mạnh đang thấp thỏm âu lo chẳng biết số phận mình ngày mai ra sao.

Cũng chẳng hiểu về công văn hỏa tốc của Bộ trưởng Bộ Y tế gởi cho chủ tịch thành phố ngày hôm qua. Thúc hối tiến trình chích vaccine vì có cảm giác thành phố tiêm chủng quá chậm chạp? Trong khi đó thành phố lại khẩn thiết yêu cầu tăng cường lượng vaccine. Thực tế là thành phố tiêm chủng quá chậm, số lượng người được chích chẳng là bao so với dân số gần chục triệu người. Thiếu vaccine hay thiếu tổ chức, trách nhiệm? Người dân không cần biết lỗi của ai, chỉ mong được chích vaccine để bớt sợ hãi và hi vọng cơn dịch sẽ sớm qua. Lúc này chỉ mong làm sao giảm được người nhiễm dịch và con số tử vong. Bởi thế giới cũng đã biết rằng không bao giờ diệt được con virus khốn nạn này mà chỉ là ngăn chận nó, sống chung với nó bằng vaccine và những viên thuốc của tương lai.

Theo HCDC, tính từ 18h30 ngày 29 Tháng Bảy đến 6h ngày 30 Tháng Bảy, thành phố ghi nhận thêm 2,740 bệnh nhân mới được Bộ Y tế công bố sáng nay. Trong đợt dịch thứ IV bắt đầu từ 27 Tháng Tư đến sáng 30 Tháng Bảy, thành phố có tổng cộng hơn 84,500 người mắc Covid-19. Những con số chẳng có chi vui, nỗi lo còn đó.

30 Tháng Bảy 2021

Sài Gòn ngày lockdown thứ hai mươi haihttps://saigonnhonews.com/thoi-su/viet-nam/sai-gon-tang-thuong-trong-tuyet-vong/embed/#?secret=M1AMeBCsTA


Chạy đến vô cùng – Tuấn  Khanh

31/7/2021

Hình ảnh đoàn người bồng bế nhau đi bằng xe máy, theo báo chí trong nước là lên đến hàng ngàn, di chuyển từ Sài Gòn tỏa đi nhiều hướng, chạy về quê nhà trong lúc dịch bệnh và lệnh phong tỏa ngặt nghèo này, đang làm nhói tim không biết bao người.

Có người đi đến 800 cây số để về miền Trung, và có người đi gần gấp đôi như vậy để đến Nghệ An. Và còn rất nhiều đích đến nữa. Ngoài những nhóm xe máy, người ta còn thấy cả những gia đình đi bằng xe đạp, thậm chí là liều lĩnh đi bộ. Tất cả đều là người nghèo Việt Nam, những con người cần lao từ mọi miền đã đổ về Sài Gòn, tìm một công việc để dựng đời mình, hoặc để kiếm chút ít dư dả gửi cho cha mẹ ở quê.

Lý do họ rời bỏ Sài Gòn, bởi không còn tin tưởng vào các chính sách chống dịch của nhà cầm quyền, và cũng không đủ sức để cầm cự thêm nữa khi mất việc, không còn gì để sống tiếp nay mai. Hẳn nhiên, chính quyền Hồ Chí Minh đang nợ những con người này một lời xin lỗi, vì đã không cưu mang họ được, qua những tháng ngày này, bất chấp việc tuyên truyền nói dối rằng luôn lo đủ cho mọi người gặp khó khăn.

Nhưng không phải vì chính quyền hết khả năng trong đại dịch. Bản tin tài chính cuối tháng 7-2021 của Ủy ban thành phố Hồ Chí Minh khoe rằng bất chấp đại dịch khó khăn, ngân sách vẫn bội thu. Ước tính sức người 10 triệu dân và sản vật, giao thương ở Sài Gòn vẫn làm ra mỗi ngày 1500 tỷ đồng để nộp cho ngân sách Trung Ương theo chỉ tiêu được giao. Con số thu được đang tăng nhanh, nên chỉ 6 tháng thôi, đã đạt 54,42% trên tổng thu theo kế hoạch.

Đoàn người ngủ vật vạ, tạm bợ để tiếp tục lên đường

Vậy đó, mà từng hộp cơm cho người nghèo, từng cọng rau cho kẻ khó… hầu hết là các cuộc tự nuôi, tự cứu nhau đầy khó khăn của người dân. Không chỉ ngăn chận con người ra đường vì lệnh giãn cách, mà các lực lượng kiểm tra, ngăn chận đủ thành phần của nhà nước còn ngăn cản cả rau, thịt, sữa… thậm chí là cả tả trẻ em và băng vệ sinh phụ nữ, cũng như là tiền mặt được vận chuyển của ngành ngân hàng. Sài Gòn như một người phụ nữ bị ép vào trò chơi trừ tà thời mông muội, phải chịu đói khát, phải bị trói buộc, kiệt sức không biết xoay trở ra sao lúc này. Dĩ nhiên, những dân cư yếu ớt nhất, dễ tổn thương nhất của vùng đất này đành phải chọn dứt áo ra đi.

Không được hứa hẹn gì một cách thực tế từ người cầm quyền, và cũng lao đao vì không đảm đương nổi bản thân, hàng ngàn con người đã gói ghém tư trang và lên đường. Họ ngủ vật vạ dọc đường, tránh né các sự chận bắt của các chốt kiểm tra trên quốc lộ. Có người chở vợ đang mang thai. Có gia đình chở 3-4 người trên một chiếc xe máy nhỏ. Có cả người mẹ đơn thân chở lùm xùm đồ đạc, phía sau là đứa con chỉ mới hơn 10 tuổi, ôm giữ em nhỏ của mình.

Sài Gòn, từ thuở khai thiên lập địa đến nay, là nơi con người tìm đến chứ không phải rời bỏ, nhưng đây là lần đầu tiên xuôi tay nhìn thị dân từ giã mình. Buồn hơn nữa, Con người bị những nơi chôn rau cắt rốn của mình từ chối tiếp nhận.  Từ ngày 1-8, nhiều tỉnh như Quảng Ngãi, Thừa Thiên- Huế, Lâm Đồng… tuyên bố sẽ không nhận người của mình trở về, vì sợ có dịch, cho dù những người này đã có giấy xét nghiệm âm tính (có thời hạn 3 ngày). Sợ không về được nhà, nhiều người chạy thâu đêm, mệt lả và vất xe lăn lóc giữa đường. Cha mẹ, con cái ôm nhau trên con đường quốc lộ cố dành sức để đến nơi, lách được vào mà không bị từ chối.

Trên con đường Bình Phước dẫn về Đắk Nông, có nhiều gia đình để nước, thức ăn nhanh trước cửa để đón những chuyến xe bơ phờ như vậy. Có một cụ già tóc bạc phơ, cứ cầm chai nước vẫy vẫy, đưa cho những chiếc xe sà vội vào nhận rồi lại lên đường. Vội đến mức chỉ còn nhìn nhau, gật đầu, chứ không còn thì giờ để kéo khẩu trang xuống nói lời cảm ơn. Nhìn những điều như vậy – và cả những câu chuyện phát cơm từ thiện, lăn xả giúp nhau của người dân bao lâu nay – là những chương sách đời cảm động, ấm lòng khôn cùng trong thời phong tỏa. Nhưng có ai đó đã nói nhỉ? Trong một xã hội vận hành, đôi khi, điều ấm lòng nhìn thấy cũng có giá trị như cáo trạng đầy câu hỏi về thời đại, về chế độ.

Người miền Nam được 2 lần nhìn thấy những cuộc di tản tự phát của người dân. Lần nào cũng có thể rơi nước mắt, dù có hướng ngược nhau.

Lần một, đó là dòng người chạy tránh những ngày kết thúc cuộc chiến năm 1975. Họ lìa bỏ mọi thứ, chấp nhận mất hết và chạy về phía Sài Gòn: một chỉ dấu của người dân vẫn chọn chạy về phía chế độ cầm quyền của mình, dù cho ngày thường họ có ghét hoặc không yêu đi nữa. Hình ảnh của dòng người tất tả chạy với đủ loại phương tiện, đến giờ vẫn làm người ta nao lòng, và thậm chí xen lẫn sự cảm kích trước sự giúp đỡ trong khả năng cuối có thể của một chế độ đang tàn lụi, vẫn ước muốn che chở công dân của mình.

Lần hai, năm 2021, dòng người đó lại tháo chạy khỏi Sài Gòn. Cuộc di tản không phải tìm về miền đất hứa, mà chỉ tháo chạy như một bầy kiến tán loạn ra khỏi nơi ngụ cư của mình, bởi một cú đập mạnh của công cuộc “chống dịch như chống giặc”. Những con virus vô hình trước mắt, giờ lại như được biểu trưng bằng hình ảnh con người. Họ chỉ có vài con đường: vào trại cách ly, gồng mình chờ cứu giúp ở nhà trọ, hoặc chấp nhận bị giam nhốt ở nơi làm việc với chính sách duy ý chí có tên “3 tại chỗ”: ăn một chỗ, ở một chỗ và làm việc cũng ở đó.

Những con người ấy, vượt ngoài tầm các kế hoạch của chỉ thị 16 hay đợt phong tỏa với quân đội, trở thành chuyện khó của những người cầm quyền ở Sài Gòn, nên họ được cho phép rời đi. Nhưng rồi trớ trêu là lại bị chận giữ, ngăn cản ở nơi họ muốn tìm về. Những con kiến-thân phận đó loay hoay chạy từ trên miệng chén rồi lại xuống dưới, mệt nhoài trong những lời tuyên bố an dân vẫn lấp lánh kiêu hãnh trên hệ thống truyền thông.

Trên các trang mạng xã hội, thậm chí là báo chí nhà nước, có không ít hình ảnh mô tả về cuộc di tản lạ lùng này. Có ảnh những đôi vợ chồng tựa vào nhau ngủ vùi chốc lát trên đường chạy. Có ảnh những đứa nhỏ ngủ mà tay vẫn bấu chặt lấy anh chị của mình như sợ thức dậy sẽ không còn thấy ai. Những gương mặt vô danh ấy quá đỗi nhọc nhằn trên cung đường chạy đến vô cùng. Trong số ấy, chắc cũng không ít người đã đóng góp cho những con số bội thu của Hồ Chí Minh hàng năm, vẫn được đọc lên trong những tràng vỗ tay của giới quan chức mừng tổng kết thu ngân sách thắng lợi.

Tham khảo thêm

https://vnexpress.net/6-thang-tp-hcm-thu-ngan-sach-hon-198-000-ty-dong-4332561.html?fbclid=IwAR392 1Rw3BVAsKMepsKgCcyAYXYUFG6CidnrdYQHMz1CGkvjxQe7qhlEx8

https://vtv.vn/xa-hoi/mot-so-tinh-dung-tiep-nhan-cong-dan-tro-ve-tu-vung-dich-20210730052400596.htmChạy đến vô cùng

Bài học của một thế kỷ chủ nghĩa cộng sản

Friday, July 30th, 2021

By thoisu 02 , July 30, 2021

(Ba kẻ sát nhân lớn nhất của Cộng sản là: Lenin, Stalin và Mao). Hình Washington Post

(Chỉnh sửa ngày 30-7-2021)

(more…)

Việt Nam Mật Chiến (Phần 2)

Wednesday, July 14th, 2021

Nguyễn Hải Hoành lược dịch từ nguồn tiếng Trung “Cuộc chiến tranh bí mật ở Việt Nam: Ghi chép thực về việc Trung Quốc giúp đỡ cuộc chiến tranh 1950-1954 của Việt Nam”. Tác giả: Tiền Giang (Trung Quốc).

14/7/2021

Hình: La Quý Ba (ngoài cùng bên phải) cùng các lãnh đạo Việt Nam tại Chiến khu Việt Bắc (Pắc Bó) năm 1950. 

Chương 2: Đại biểu liên lạc La Quý Ba nhận lệnh sang Việt Nam

(more…)

Sức hút và lực đẩy: hai khía cạnh trái ngược trong quan hệ Việt-Trung

Friday, April 23rd, 2021

Nguyễn Thế Anh

22/4/2021

 [1] [1] Nguyên văn Anh ngữ “Attraction and Repulsion as the Two Contrasting Aspects of the Relations between China and Vietnam”, được trình bày trong Há»™i thảo China and Southeast Asia: Historical Interactions. An International Symposium, University of Hong Kong, 19-21/07/2001 và được xuất bản trong Tonan Ajia Kenkyu (Southeast Asian Studies) [Kyoto Univ.], vol.40, n°4 (03/2003), tr.444-458; East Asian Science, Technology, and Medicine (Tübingen), n°21 (2003), tr.94-113 

Nhìn sâu vào lịch sá»­, đối vá»›i người Việt, những trải nghiệm vá»›i người Trung Quốc dường nhÆ° nằm trong phức cảm yêu-ghét, hay đúng hÆ¡n là má»™t sá»± pha trá»™n của thu hút và thù hận, mà tiêu đề bài hát của nhạc sÄ© Serge Gainsbourg, “Je t’aime, moi non plus” [tôi yêu em, nhÆ°ng tôi không còn nhÆ° thế nữa] gần nhÆ° khắc hoạ đúng trường hợp này. Trạng thái này tác Ä‘á»™ng đến tất cả các vấn đề đối ngoại của Việt Nam, và trong hàng ngàn năm qua, quan hệ vá»›i Trung Quốc đặc trÆ°ng bởi má»™t sá»± phức tạp có thể nói là gai góc ở tầm chính thức, xuề xoà và thân thiện ở trong lề thói thông thường. Trên thá»±c tế, mối quan hệ hiện nay là sá»± hoán chuyển giữa má»™t bên là những xung Ä‘á»™t nảy lá»­a vá»›i má»™t bên là những tuyên ngôn chính thức về tình hữu nghị không thể lay chuyển. Chúng phần nào gợi nhá»› lại những kiểu giao kết Việt-Trung cổ xÆ°a, đặc trÆ°ng bởi những rối rắm trong chính sách ngoại giao của má»™t quốc gia nhỏ hÆ¡n luôn luôn phải dè chừng ý đồ bành trÆ°á»›ng của ông hàng xóm to lá»›n trong quan hệ khu vá»±c.

Nằm ngay sát cạnh Trung Quốc, dân tá»™c Việt Nam, có lẽ khác người Miến Điện và Thái Lan, luôn phải dè chừng ông bạn to lá»›n này trong các mối quan hệ khu vá»±c. Trong suốt nghìn năm kể từ khi Việt Nam giành được Ä‘á»™c lập cho đến giai Ä‘oạn thá»±c dân kiểu Pháp, ghi dấu bốn cuá»™c xâm lược lá»›n của Trung Quốc, cá»™ng thêm giai Ä‘oạn nhà Minh chiếm đóng khá dài, người Việt đã tích luỹ được bề dày kinh nghiệm trong việc giải quyết những mối quan hệ này. Trong khi đó, suốt quá trình đô há»™ của Trung Quốc, từ thế ká»· II trÆ°á»›c CN đến thế ká»· X sau CN, Việt Nam đã hấp thu từ Trung Quốc các lý thuyết chính trị, cÆ¡ cấu xã há»™i, thá»±c hành chế Ä‘á»™ quan liêu, tín ngưỡng tôn giáo và các thuá»™c tính văn hoá khác. Sá»± tiếp xúc lâu dài vá»›i ngôn ngữ và văn hoá Trung Hoa có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hoá xã há»™i Việt Nam, tiếp tục cho tá»›i cuối thế ká»· XIX. Thật vậy, các nhà cai trị của Việt Nam không ngừng lấy nguồn cảm hứng văn hoá từ Trung Quốc, ngay cả khi họ củng cố quốc gia Ä‘á»™c lập và thống nhất. Chữ Hán được lấy làm ngôn ngữ chính thức và là phÆ°Æ¡ng tiện giảng dạy, phÆ°Æ¡ng tiện để biểu đạt tri thức. Người  Việt được học các chủ đề văn chÆ°Æ¡ng Trung Quốc cÅ©ng nhÆ° giáo lý đạo đức được trích dẫn từ Nho giáo cổ Ä‘iển. Đóng góp của Trung Quốc cho Việt Nam bao gồm tất cả các khía cạnh của văn hoá và xã há»™i. Đặc biệt, ảnh hưởng của Trung Quốc được cảm nhận mạnh mẽ nhất ở cấp cao nhất của nhà nÆ°á»›c và chính trị: khái niệm luật pháp và quản trị của Trung Quốc đã trở thành yếu tố quan trọng của chính thể  Việt Nam trong thời kỳ Ä‘á»™c lập, bởi vì nó giúp nhà cầm quyền củng cố quyền lá»±c và chống lại các Ä‘e doạ từ bên ngoài, đặc biệt Ä‘e doạ từ Trung Quốc. Nền học thuật và văn học của Việt Nam không thể tránh khỏi việc thẩm thấu di sản cổ Ä‘iển của Trung Quốc; chữ Hán là ngôn ngữ của hành chính và giáo dục, nhÆ° tiếng la-tinh ở châu Âu tiền hiện đại. Khả năng thể hiện sá»± thông thạo về  ngôn ngữ và văn hoá Trung Quốc của các sứ giả Việt Nam ngay tại triều đình Hoa Hạ là cách quan trọng để chứng minh Việt Nam là má»™t đất nÆ°á»›c “văn minh” và không cần đến chính quyền Trung Quốc quan tâm chỉ bảo “khai hóa văn minh”.

Do tác Ä‘á»™ng mạnh mẽ của nền văn minh Trung Quốc đối vá»›i Việt Nam, năng lá»±c của Việt Nam được nâng cao để tiếp nhận má»™t cách có lá»±a chọn các yếu tố văn minh Hoa Hạ, hoặc chí ít  cÅ©ng quan trọng ở các thành tá»±u được hấp thu. Kể từ khi Việt Nam giành được quyền tá»± trị, ảnh hưởng của Trung Quốc đến xã há»™i Việt Nam vẫn tiếp tục mạnh mẽ nhÆ° khi trá»±c thuá»™c chính quyền tỉnh của Trung Quốc. Các vị vua Việt Nam có thể thúc đẩy đường lối làm việc theo kiểu Trung Quốc vá»›i nhiều thành công hÆ¡n các thái thú Trung Quốc, vì họ thường biết  dân của họ sẽ chịu Ä‘á»±ng được đến mức nào [Taylor, 1983: 298]. HÆ¡n nữa, vá»›i kinh nghiệm  thu được từ sá»± cai trị của Trung Quốc, người Việt Nam hiểu má»™t cách sâu sắc những  ý đồ của người Trung Quốc. Sống trong cái bóng của má»™t đế chế lá»›n, người Việt nhất thiết trở thành chuyên gia về nghệ thuật sống còn, và họ nắm bắt được lề lối của Trung Quốc nhÆ° má»™t cách thức để tồn tại. Sá»± cần thiết phải vô hiệu hóa nguy cÆ¡ đô há»™ từ phÆ°Æ¡ng  Bắc bằng cách chiếm hữu nguồn gốc của tính hợp pháp phÆ°Æ¡ng Bắc khiến họ ná»— lá»±c đầu tÆ° để đạt được và duy trì các kỹ năng công nghệ, hành chính và văn hoá. Do đó, trong giai Ä‘oạn Ä‘á»™c lập, tầng lá»›p thống trị ở Việt Nam đã học cách áp đặt các nguyên tắc của nền văn minh cổ truyền, nhờ đó vượt qua “chủ nghÄ©a man rợ” và loại bỏ mọi nguyên cá»› khiến Trung Quốc có thể thá»±c hiện sứ mệnh “khai hoá văn minh” trên đất Ä‘ai của họ [Woodside, 1971].

Người Việt Nam vẫn duy trì ngôn ngữ riêng, và cùng vá»›i đó là  những ký ức của họ về má»™t nền văn minh tiền Hán. Việc bảo tồn tiếng Việt hết sức đáng chú ý: có nghÄ©a là bất cứ Ä‘iều gì người Trung Quốc làm ở Việt Nam đều được Ä‘iều hoà bởi thá»±c tiá»…n văn hoá sao cho nó riêng biệt và tách rời khỏi ảnh hưởng tÆ° tưởng của Trung Quốc. Mọi thứ người Việt Nam vay mượn từ Trung Quốc đều được bẻ cong qua lăng kính ngôn ngữ và văn hóa Việt. Do đó, bất chấp di sản Khổng giáo thông thường, sẽ là sai khi nghÄ© rằng tâm thức thống trị đời sống trí thức ở Trung Quốc và Việt Nam luôn giống nhau. Đôi khi chúng khác nhau cÅ©ng nhÆ° Ä‘iều kiện địa lý khác nhau, và sá»± khác biệt đã giúp hạn chế quá trình Hán hoá Việt Nam.

Liệu có sự khác biệt đáng kể giữa các thiết chế Việt Nam và Trung Quốc, và liệu những khác biệt đó ít nhất thể hiện dù chỉ một phần trong quan điểm riêng mà các nhà tư tưởng Việt Nam tạo lập và theo đuổi? Câu hỏi lớn là làm thế nào người dân Việt Nam có thể hưởng lợi từ văn hoá Trung Quốc mà không trở thành người Trung Quốc? Trong hàng thế kỷ, rõ ràng Việt Nam chịu sức hút từ tư tưởng chính trị, thực tiễn xã hội, xu hướng văn học và công nghệ của Trung Quốc và tự điều chỉnh bằng cách nào đó với quyết tâm bảo vệ độc lập của Việt Nam. Việt Nam chưa bao giờ ngừng vay mượn văn hoá từ Trung Quốc; trái lại, các triều đại khác nhau của một nước Việt Nam độc lập, vào khoảng giữa năm 1010 và 1885, còn tăng mạnh hơn nữa. Trên thực tế, nhận thức được sự vượt trội về kinh tế và khoa học của Trung Quốc, nhà cầm quyền Việt Nam không muốn từ bỏ việc tiếp cận các sáng kiến ​​của Trung Quốc, và sử dụng những cây cầu văn hoá đã được xây dựng giữa hai nước để tham gia vào thế giới Hán văn.

Tầng lớp nho sĩ được sinh ra từ cơ cấu giáo dục chính thống đã định hình, họ là những người kiên định ủng hộ một nền văn học chính thống gắn với quan niệm đạo đức Khổng giáo của xã hội, thống trị nền văn học và sử học của Việt Nam. Với tinh thần nhân văn dồi dào và tình yêu tri thức sách vở, Khổng giáo đã giúp đem lại cho Việt Nam một giai tầng học giả có ý thức lịch sử, những người có niềm tin sâu sắc rằng những nguyên tắc tiên thiên của đạo đức con người cần phải được thấu hiểu qua đọc và viết sử ký.

Việc vay mượn văn hoá này thậm chí còn quá toàn diện để có thể truy nguyên toàn bá»™ tính toán chiến lược má»™t cách có ý thức. Nó đôi khi là sá»± thuần phục má»™t cách không cần thiết. Chẳng hạn, Hoàng đế nhà Nguyá»…n thế ká»· XIX tá»± nhận là “Thiên tá»­” ( 天子), ngụ ý bình đẳng vá»›i hoàng đế Trung Quốc. Họ đã đặt tên đất nÆ°á»›c của mình là Đại Nam (大 南) [Woodside, 1971: 9]. Lại nữa, sau năm 1802, họ đã xây dá»±ng Kinh đô má»›i tại Huế ở miền Trung Việt Nam, vốn đã được lên kế hoạch là má»™t bản sao của Kinh đô Yên Kinh của Trung Quốc. Việc bắt chÆ°á»›c còn thể hiện trong luật nÆ°á»›c Nam, má»™t bản sao rõ ràng của luật pháp của Trung Quốc. Sá»± bắt chÆ°á»›c Ä‘i cùng vá»›i tình trạng công khai khi Việt Nam được công nhận là “chÆ° hầu” của Trung Quốc trong hệ thống ngoại giao Trung Quốc truyền thống cÅ©ng nhÆ° việc triều cống. Và thẩm quyền của Trung Quốc đối vá»›i các tiêu chuẩn văn hoá là chuyện không phải bàn cãi khi triều đình Việt Nam luôn luôn lá»±a chọn sứ giả sang Trung Quốc là những học giả đồng thời là nhà thÆ¡ hoặc triết gia xuất sắc nhất Việt Nam, để chứng minh cho người Trung Quốc rằng người Việt Nam cÅ©ng có thể làm chủ được văn hoá Khổng giáo.

Các thể chế truyền thống của Việt Nam – chế Ä‘á»™ quân chủ, cÆ¡ chế quan liêu, hệ thống luật pháp, và ngay cả dòng dõi gia tá»™c – tất cả đều giống Trung Quốc. Tuy nhiên, tại sao má»™t nÆ°á»›c Việt Nam tiền hiện đại không chỉ Ä‘Æ¡n thuần là má»™t “Trung Quốc thu nhỏ”? Dường nhÆ° câu trả lời là chủ nghÄ©a nhân văn Nho giáo thá»±c dụng đã lan rá»™ng đến Việt Nam nhÆ° má»™t phần của nền cổ Ä‘iển Trung Quốc, biến tầng lá»›p thượng lÆ°u Việt Nam thành má»™t tầng lá»›p ý thức được việc phải có sứ mệnh Ä‘á»™c lập đối vá»›i các nhà cai trị Trung quốc [Woodside, 1988: 29]. Trên thá»±c tế, nghiên cứu lịch sá»­, vốn được các giá trị cổ Ä‘iển Trung Quốc khuyến khích, chắc chắn sẽ hÆ°á»›ng sá»± quan tâm của Việt Nam đến những sai lầm mà họ nghÄ© họ đã phải chịu Ä‘á»±ng trong tay Trung Quốc. Trí thức Việt Nam sống vá»›i những băn khoăn về sá»± tiếp nối của má»™t nền văn hoá giàu có hình nhÆ° đã mai má»™t hoặc bị tàn phá. Lê Quý Ðôn, má»™t nhà triết học và sá»­ gia lá»—i lạc của thế ká»· XVIII, đã Ä‘Æ°a ra má»™t bản kiểm kê về thÆ° tịch và lÆ°u trữ của Việt Nam, nhiều trong số đó đã bị phá hủy hoặc bị người  Trung Quốc xâm lược cÆ°á»›p về nÆ°á»›c họ. Đây là quá trình “tập hợp bất công” trên má»™t quy mô đáng kinh ngạc: giá»›i quan lại yêu chuá»™ng thÆ° tịch của Việt Nam có má»™t bá»™ nhá»› được bảo quản tỉ mỉ nhất về di sản văn hóa bị mất mát hoặc bị đánh cắp [Woodside, 1982].

Quá trình tÆ°Æ¡ng tác vá»›i Trung Quốc và việc nằm trong tầm ảnh hưởng của đế chế văn hoá Trung Hoa, trá»› trêu thay lại có tầm quan trọng vá»›i việc hình thành bản sắc dân tá»™c Việt Nam. Những người Việt Nam có học thức thông thạo các tài liệu văn học Trung Quốc thậm chí còn cung cấp vÅ© khí ngoại giao chống lại Trung Quốc [Wolters, 1999: 63]. Triều đình Việt Nam đã nhiều dịp nhắc nhở triều đình phÆ°Æ¡ng Bắc về giáo lý của người Trung Quốc rằng má»™t vị minh quân phải thể hiện thái Ä‘á»™ khoan hoà vá»›i viá»…n khách. Các thông Ä‘iệp của người Việt gá»­i Trung Quốc thường bóng gió những lý lẽ để can ngăn các hoàng đế Trung Hoa xâm phạm chủ quyền của Việt Nam. Mặt khác, má»™t trong những nhiệm vụ cÆ¡ bản được giao cho ngành chép sá»­ truyền thống Việt Nam là phải xác định được bản sắc hoàn toàn khác biệt của quốc gia này, xét về biên giá»›i thá»±c cÅ©ng nhÆ° huyền thoại, nhằm vÄ©nh viá»…n gạt bỏ ý đồ của Trung Quốc muốn hồi sinh má»™t giả thuyết hợp thức hoá nào đó để có cá»› can thiệp. Được Vua Trần Thánh Tông ban Dụ  biên soạn lịch sá»­ Ðại Việt (được hoàn thành năm 1272), nhà sá»­ học Lê Văn HÆ°u đã lắp ráp má»™t số mảnh triết lý và lịch sá»­ Trung Quốc, trong đó má»™t vài mảnh được ông tách ra khỏi bối cảnh nguyên thuá»·, để thể hiện tính cổ Ä‘iển của thiết chế phong kiến Việt Nam mà Trần Thái Tông và người kế vị của ông đã đấu tranh bảo vệ và chống lại Kubilai Khan [Hốt Tất Liệt].

            Các mảnh ghép Trung Quốc được sá»­ dụng để bảo vệ vị thế Ä‘á»™c lập của các nguyên thủ Việt Nam khi đối mặt vá»›i các mÆ°u đồ của phong kiến Trung Quốc. Chúng được thiết kế riêng cho phù hợp vá»›i lịch sá»­ Việt Nam và cho thấy rằng mối quan hệ chÆ° hầu giữa Việt Nam vá»›i Trung Quốc chỉ là tưởng tượng [Wolters, 1999: 86]. Lê Văn HÆ°u bắt đầu khảo cứu các sá»± kiện lịch sá»­ kể từ năm 207 trÆ°á»›c CN và thành tá»±u của  người sáng lập quốc gia Nam Việt [Nanyue], Triệu Ðà [Zhao Tuo], theo sá»­ gia, đó là người đầu tiên lập má»™t đế chế ở phÆ°Æ¡ng Nam có thể tồn tại song song bên cạnh đế chế phÆ°Æ¡ngBắc: «Triệu VÅ© Đế [Zhao Wudi], khai thác đất Việt ta mà tá»± xÆ°ng Đế trong nÆ°á»›c, ngang hàng vá»›i nhà Hán, .. mở đầu cÆ¡ nghiệp đế vÆ°Æ¡ng cho nÆ°á»›c Việt ta, công ấy có thể nói là to lá»›n lắm vậy. Người làm vua nÆ°á»›c Việt sau này nếu biết bắt chÆ°á»›c VÅ© Đế mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp phải đạo vá»›i láng giềng, lấy lòng khoan dung để duy trì ngôi báu thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài, người phÆ°Æ¡ng Bắc không thể lại ngấp nghé được” [Đại Việt sá»­ ký, 1983: 134].

Bằng cách này, Lê Văn Hưu nhấn mạnh cơ sở pháp lý và lịch sử của nền độc lập Việt Nam. Triệu Đà, vị vua phương Nam phản kháng xâm lược phương Bắc, trở thành quốc vương hợp pháp bởi các biểu tượng văn hoá địa phương trước khi chính quyền tỉnh của Trung Quốc được biết đến. Vì vậy, Triệu Đà đại diện cho sự kết thúc của vương triều bản địa tiền Hán; ông cũng đại diện cho sự khởi đầu của thời kỳ khi khái niệm về vương quyền gắn chặt với khả năng chống lại sự hiếu chiến của Trung Quốc. Nhìn ra thực tế thì Triệu Đà không phải là người Việt Nam lúc sinh thời, song các nhà sử học Việt Nam đã nhìn thấy trong con người này tinh thần chính trị bất khuất của chính họ và dựa vào đó mà coi ông là người Việt [Taylor, 1983: 293]. Lê Văn Hưu lựa chọn Nam Việt của Triệu Ðà làm điểm bắt đầu cho lịch sử Việt Nam và điều đó trực tiếp nhấn mạnh tinh thần “bình đẳng của Việt Nam” với Trung Quốc.

TÆ°Æ¡ng tá»± nhÆ° vậy, má»™t tác phẩm khác được sáng tác vào cuối thời Trần, Việt sá»­ lược, đã không xếp Việt Nam vào khu vá»±c kiểm soát bởi các vị hoàng đế khôn ngoan của Trung Quốc, cÅ©ng là nằm ngoài ảnh hưởng của văn minh Hán trong thời hoàng kim của Trung Quốc. Ý đồ của hành Ä‘á»™ng này  nhằm chứng minh tổ tiên của đất nÆ°á»›c Việt Nam, những người sáng tạo ra vÆ°Æ¡ng quốc Văn Lang hÆ°ng thịnh vá»›i ‘các phong tục thuần khiết, giản dị’ tồn tại từ rất lâu trÆ°á»›c thời kỳ có thể chịu ảnh hưởng của Trung Quốc, có tÆ° cách bình đẳng vá»›i các vị vua sáng lập ra Trung Quốc. Trong khi Lạc Long Quân, vua đầu tiên của Văn Lang là người Việt Nam, tÆ°Æ¡ng Ä‘Æ°Æ¡ng vá»›i Hoàng đế Trung Quốc, những đổi má»›i văn hoá của ông có thể sánh vá»›i những cải tiến văn hoá phÆ°Æ¡ng Bắc. Nói rằng văn minh cổ đại của Văn Lang có sá»± tÆ°Æ¡ng đồng vá»›i thời cổ đại xa xôi của Trung Quốc trên thá»±c tế có nghÄ©a là khẳng định sá»± bình đẳng giữa Bắc và Nam, thông qua tiêu chí chính trị và văn hoá mà người Trung Quốc Ä‘Æ°a ra để tuyên bố Æ°u thế của họ hÆ¡n tất cả tá»™c người khác.

Việc khắc hoạ Việt Nam như một quốc gia văn hoá [văn hiến chi bang 文獻之邦] tương tự Trung Quốc sẽ được Nguyễn Trãi lặp lại vào cuối thế kỷ XV, khi ông viết Bình Ngô đại cáo, tuyên bố thất bại của nhà Minh khiến quân đội Minh triều bị đánh đuổi ra khỏi Việt Nam:

Đất đai bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần xây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương

Trong tuyên ngôn của mình, Nguyá»…n Trãi đã sá»­ dụng các yếu tố truyền thống Trung Quốc để chỉ ra phÆ°Æ¡ng thức đúng đắn nhằm ngăn chặn âm mÆ°u của nhà Minh – Trung Quốc. Đối vá»›i ông, các thể chế Hán (Sinic) không phải là “Trung Quốc” và Việt Nam không phải là má»™t thá»±c thể bên ngoài chỉ biết bắt chÆ°á»›c họ [O’Harrow, 1979: 174]. Tuyên ngôn của Nguyá»…n Trãi là má»™t ná»— lá»±c chứng minh nền Ä‘á»™c lập và bình đẳng của Việt Nam. Giống nhÆ° các nho sÄ© Việt Nam khác, ông tin rằng văn học cổ đại Trung Quốc có đặc trÆ°ng phổ quát chứ không chỉ Ä‘Æ¡n giản là các mô hình kinh nghiệm của Trung Quốc. Trong má»™t số trường hợp, các học giả này đánh đồng các phÆ°Æ¡ng châm của Khổng giáo vá»›i má»™t kiểu công nghệ, má»™t công nghệ tiên tiến nhất để kiểm soát và quản lý xã há»™i. Do đó, họ không ngần ngại khÆ¡i gợi các Ä‘oản văn Hán ngữ nhÆ° những tinh hoa về phép tu từ để minh họa vị trí cao quý của họ trên thế giá»›i và coi bất cứ Ä‘iều gì mà họ nói ra đều là chuẩn má»±c. Nói cách khác, các mô hình văn hoá Trung Quốc vẫn đồng nghÄ©a vá»›i “nền văn minh”, và bởi vậy giá»›i nho sÄ© Việt Nam không ngừng xác lập văn hoá Việt Nam tách biệt khỏi các nÆ°á»›c láng giềng Đông Nam Á, kiên trì nâng cao nhận thức phổ biến về các chuẩn má»±c Nho giáo nhằm làm sâu sắc thêm mối liên kết giữa dân tá»™c Việt Nam và Khổng giáo. Do sá»± liên kết văn hóa này, trong quá khứ, các học giả Việt Nam luôn có xu hÆ°á»›ng nhấn mạnh vai trò quan trọng của đất nÆ°á»›c họ nhÆ° má»™t trung gian chuyển giao công nghệ giữa Trung Quốc và Đông Nam Á. Lê Quý Ðôn đã có lần tuyên bố má»™t cách dứt khoát rằng sản vật của Việt Nam hÆ¡n hẳn  Trung Quốc ở tất cả mọi thứ từ hoa trái đến rau quả. Trên tất cả, ông chỉ ra rằng các loại gạo chín sá»›m Ä‘a dạng đều có nguồn gốc từ Champa, sau đó đến Việt Nam trÆ°á»›c hết, rồi má»›i tá»›i Trung Quốc. NhÆ° Alexander Woodside đã gợi ý, sá»± lan rá»™ng toàn thế giá»›i của gạo Chăm vào thế ká»· XI trở thành chủ đề chính cho Ä‘á»™c giả Việt Nam vào bảy thế ká»· sau đó, “Lê Quý Đôn đã mời họ hình dung lại toàn bá»™ lÄ©nh vá»±c kinh tế của biển Nam Trung Quốc trong cái nhìn tách khỏi Trung Quốc và ủng há»™ Đông DÆ°Æ¡ng “[Woodside, 1997: 256257]. Rõ ràng mục tiêu của Lê Quý Đôn không chỉ làm giảm tầm quan trọng của Trung Quốc, mà còn lấy dữ liệu từ sá»± phát triển nông nghiệp khu vá»±c để mang lại chiều sâu ý thức về bản sắc Việt Nam.

Đối vá»›i tầng lá»›p thượng lÆ°u của Việt Nam những năm 1700 và đầu những năm 1800, đế quốc Trung Hoa đã không thể  hoàn thiện cá»™ng đồng lý tưởng của các triết gia Khổng học. Trong mắt người Việt Nam, Trung Quốc thá»±c sá»± là má»™t đế quốc của các đô thị thÆ°Æ¡ng mại khổng lồ nÆ¡i các nhà cai trị giả dối nói bằng nhiều thứ tiếng. Ngược lại, ở Việt Nam, thÆ°Æ¡ng mại nhỏ hÆ¡n, gần gÅ©i hÆ¡n vá»›i quy mô của các thành phố – tiểu bang thời đại Khổng Tá»­, và có môi trường tiềm năng thích hợp hÆ¡n cho các giá trị Nho giáo [Woodside, 1997: 248]. Do đó, niềm tin của bậc đế vÆ°Æ¡ng Việt Nam là họ không cần phải là người ‘Trung Quốc’ để tạo ra má»™t quốc gia có các phẩm chất nhÆ° các quốc gia mà Khổng Tá»­ ngưỡng má»™. Điều này giải thích lý do tại sao biên niên của nhà Nguyá»…n mô tả bậc đế vÆ°Æ¡ng Việt Nam trong thế ká»· XIX nhÆ° là người thá»±c sá»± bảo tồn Khổng học chính thống, vá»›i văn hoá vượt trá»™i so vá»›i nhà Thanh là giống “man di” vì có nguồn gốc từ Mãn Châu.

Những tuyên bố bá quyền của Trung Quốc và cuá»™c kháng chiến dai dẳng của người Việt Nam chống lại tuyên bố này, minh chứng cho sá»± tin tưởng ngoan cường của người Việt rằng Việt Nam và Trung Quốc, trái ngược vá»›i tín Ä‘iều Trung Quốc, có chủ quyền ngang nhau. Sá»± xác tín này rõ ràng được xác lập nhÆ° là phủ nhận các tham vọng của Trung Quốc muốn chiếm lÄ©nh vai trò là trung tâm duy nhất trên thế giá»›i [Wolters, 1979]. Trong lời mở đầu cho các biên niên sá»­ Việt Nam, nhà sá»­ học thế ká»· XV Ngô SÄ© Liên lập luận rằng người Việt có nguồn gốc từ Thần Nông, má»™t trong những bậc minh quân huyền thoại của Trung Quốc, nhÆ°ng thuá»™c nhánh khác vá»›i Trung Quốc [Đại Việt sá»­ ký, 1983: 99]. Điều này góp phần làm nên hình ảnh lý tưởng của mối quan hệ giữa người Việt Nam vá»›i Trung Quốc: có cùng nguồn gốc, nhÆ°ng vá»›i má»™t lịch sá»­ Ä‘á»™c lập, ngầm phủ nhận bá quyền chính trị của Trung Quốc. NhÆ° má»™t hệ quả, các nguyên thủ Việt Nam hình dung về thế giá»›i từ quan Ä‘iểm ‘Bắc’ và ‘Nam’, khẳng định rằng kể từ khi được Ä‘á»™c lập khỏi ách đô há»™ Trung Quốc, họ đã liên tục duy trì má»™t truyền thống đế quốc phía Nam vốn bắt nguồn từ thời cổ đại, và do đó bác bỏ vị trí trung tâm của Trung Quốc trong vÅ© trụ [Nguyá»…n Thế Anh, 1990: iii]. Do đó, tá»›i lượt mình, họ ná»— lá»±c buá»™c các nÆ°á»›c láng giềng Đông Nam Á nhìn nhận phiên bản của họ về má»™t thế giá»›i nÆ¡i họ cÅ©ng phải chiếm vị trí vượt trá»™i [Woodside, 1971: 234-246].

Trong khi người Việt duy trì được Ä‘á»™c lập qua nhiều thế ká»· mặc dù các hoàng đế Trung Quốc liên tục đòi áp đặt quyền lá»±c của họ đối vá»›i Việt Nam, phần lá»›n là do Trung Quốc cho rằng bất cứ Ä‘iều gì mà họ thèm muốn ở Việt Nam, những gì họ nhận được không xứng vá»›i thứ mà họ yêu cầu. Do đó, mối quan hệ phiên thuá»™c vẫn được duy trì, từ quan Ä‘iểm của Trung Quốc có nghÄ©a là mối quan hệ của bá chủ và chÆ° hầu, từ quan Ä‘iểm của người Việt Nam là mối quan hệ của hai nÆ°á»›c Ä‘á»™c lập, có “chủ quyền” (dù không bình đẳng về mặt quyền lá»±c). Tuân thủ nghiêm túc các quy tắc và diá»…n giải về mối quan hệ này theo nhÆ° quan niệm của Việt Nam góp phần vào chung sống hòa bình. Tuy nhiên, mối quan hệ phiên thuá»™c không phải là quan hệ giữa hai quốc gia bình đẳng, mà là do sá»± sắp xếp phức tạp, theo đó, mặc dù không được thể hiện cụ thể bởi bất kỳ Ä‘iều Æ°á»›c nào, chúng vẫn dá»±a trên các quan hệ cá nhân giữa hai bậc đế vÆ°Æ¡ng của hai nÆ°á»›c. Điều đó ngầm hiểu là Trung Quốc thoả thuận hiện diện vá»›i tÆ° cách cường quốc đồng ý há»— trợ cho chÆ° hầu của mình trong trường hợp cần thiết, và bên chÆ° hầu ngầm chấp nhận các nghÄ©a vụ theo nghi lá»… nhất định, nhất là các nghÄ©a vụ cống ná»™p định kỳ cho triều đình Trung Quốc. Vị thế phiên thuá»™c  không áp đặt cho quốc gia Việt Nam, mà giành cho hoàng đế, người về nguyên tắc có tính hợp pháp vì được Hoàng đế Trung Quốc phê chuẩn. Qua nghi lá»… tấn phong này, Thiên tá»­ của Trung Quốc long trọng tuyên bố người mà ông ban cho danh hiệu “An Nam Quốc vÆ°Æ¡ng” là xứng đáng vì lòng trung thành và tận tuỵ. NhÆ° vậy, việc phong tặng tạo ra sá»± phụ thuá»™c, nhÆ°ng đồng thời góp phần thiết lập tính hợp thức cho nền quân chủ Việt Nam vá»›i sá»± giúp đỡ của nÆ°á»›c láng giềng to lá»›n.

Bắt nguồn từ các cuá»™c chinh phạt từ thời Hán, quyền bá chủ của Trung Quốc, đến tận thế ká»· XIX được khẳng định liên quan đến lãnh thổ Việt Nam hÆ¡n là đối vá»›i dân tá»™c Việt Nam. Nó không chỉ gắn liền vá»›i quan Ä‘iểm truyền thống về trọng luân lý và đạo đức của Trung Quốc nhÆ° là bá chủ thiên hạ (天下), mà còn phân định khá rõ  ở miền bắc Việt Nam, má»™t phần của lãnh thổ 領土 hoặc “đất tiếp giáp” vá»›i Hán và Đường[i][2].

Sau khi Việt Nam giành Ä‘á»™c lập, sá»± can thiệp của Trung Quốc tập trung chủ yếu vào việc khôi phục các vị trí hoàng thân Việt Nam bị phế truất. Vấn đề tính hợp pháp vẫn luôn là mối quan tâm của Trung Quốc cho đến thời kỳ hiện đại. Hành Ä‘á»™ng của Minh Thành Tổ  năm 1407 chủ đích là trị an chÆ° hầu gặp sá»± biến, khi vua thuá»™c quốc kêu gọi giúp đỡ, và sau đó trả lại trật tá»±. Trong triều đại nhà Thanh, Việt Nam là má»™t trong ba hoặc bốn chÆ° hầu trung thành nhất trong việc cống nạp cho triều đình Bắc Kinh. Và trong nhiều trường hợp, quân Ä‘á»™i của hoàng đế [Trung Quốc] được cá»­ đến lãnh thổ Việt Nam, theo yêu cầu của hoàng đế Việt Nam, để đàn áp nổi loạn địa phÆ°Æ¡ng. Cho đến thế ká»· XIX, những sá»± kiện đó, cùng vá»›i mối quan hệ văn hoá và chủng tá»™c lâu đời, đã được người Trung Quốc xem là bằng chứng đầy đủ về quyền bá chủ không thể xoá bỏ của Trung Quốc đối vá»›i Việt Nam.

Tuy nhiên, hệ thống phiên thuá»™c thỏa mãn các lợi ích cÆ¡ bản của hai bên. Đối vá»›i Trung Quốc, đó là má»™t phÆ°Æ¡ng tiện hành Ä‘á»™ng thông minh và tiết kiệm để giữ lại trong quỹ đạo ảnh hưởng của nó má»™t quốc gia lân cận mà vì lý do thá»±c tiá»…n họ không thể kiểm soát trá»±c tiếp. Điều này cho phép Trung Quốc có trong tầm tay má»™t chÆ° hầu thuần phục có thể giúp họ giữ yên xã há»™i phÆ°Æ¡ng Nam. Về phần mình, các vị hoàng đế Việt Nam ý thức rõ ràng về sá»± cần thiết phải chấp nhận tÆ° cách phiên thuá»™c của họ, để ngăn chặn sá»± can thiệp trá»±c tiếp của Trung Quốc vào công việc ná»™i bá»™. HÆ¡n nữa, vì lợi ích, triều đình  Việt Nam thà mất má»™t phần chủ quyền để đổi lấy sá»± đảm bảo rằng nếu có biến trong nÆ°á»›c, vua Việt Nam sẽ được Trung Quốc trợ giúp, Trung Quốc sẽ chịu trách nhiệm về mặt đạo đức phải bảo vệ triều đại hợp pháp mà họ đã công nhận-, và trong thời bình,  sẽ không có nguy cÆ¡ bị Trung Quốc can thiệp, chinh phục và trá»±c tiếp cai trị đất nÆ°á»›c. Bên cạnh đó, giá»›i cai trị Æ°u tú của Việt Nam dá»… dàng chấp thuận chế Ä‘á»™ chÆ° hầu này chừng nào nó cho phép họ hưởng lợi từ lợi ích vật chất và văn hoá: các sứ thần được cá»­ đến triều đình Trung Quốc có dịp được mang về nÆ°á»›c mình những cuốn sách văn học và khoa học, chÆ°a kể đến lợi nhuận từ kinh doanh phụ trong thời gian Ä‘i sứ.

Tuy nhiên, các Hoàng đế Việt Nam đã thận trọng thực hiện các hoạt động nhằm vô hiệu hóa những hạn chế của hệ thống phiên thuộc mà họ không thể công khai xoá bỏ. Bắt đầu với nhà Trần (1226-1400), những người đứng đầu Việt Nam đã sử dụng tên giả [Giả húy, 假 諱] trong thư tín ngoại giao của họ với triều đình Trung Quốc [Hoàng Xuân Hãn 1967: 143-144]. Người đi thế Quang Trung khi sang Bắc Kinh năm 1790 để nhận tấn phong nhằm mục đích tương tự [Trương Bửu Lâm 1968: 174-177]. Trong những trường hợp này, đối với các nhà cai trị Việt Nam việc lừa dối triều đình Trung Quốc không ý nghĩa bằng việc tìm ra một thủ thuật ngầm để làm mất hiệu lực việc tấn phong của Hoàng đế Trung Quốc: khi việc tấn phong dành cho một thực thể giả, nó sẽ là vô nghĩa. Bằng cách đó, tính độc lập của nền quân chủ Việt Nam ít nhất được bảo đảm.

Dù sao, người Việt Nam đã nhận thức đầy đủ về việc họ vay mượn văn hoá của một nền văn minh, thay vì nhiều nền văn minh khác nhau. Họ vẫn nghĩ như vậy cho đến khi chế độ thuộc địa của Pháp đến buộc Việt Nam phải quay lưng lại với truyền thống Trung Quốc và hướng tới văn hoá phương Tây. Sự hiện diện của Pháp cũng làm gián đoạn xu hướng địa phương hóa xã hội Việt Nam của những người Trung Quốc là thương nhân và người tị nạn đến Việt Nam. Cho đến lúc đó, những người Trung Quốc đến định cư ở Việt Nam đã thích nghi với trật tự chính trị bản địa và thường được coi là đã vượt qua “bài kiểm tra văn hoá”[ii][3]

Sau khi bị áp đặt bởi những nguyên tắc của người Pháp, mối quan hệ lâu dài giữa Hoa kiều vá»›i môi trường văn hoá thay đổi do sá»± kết hợp của chính sách thá»±c dân Pháp và sá»± tập trung cao Ä‘á»™ các lao Ä‘á»™ng nhập cÆ°: không chỉ các Hoa kiều không đồng hoá được môi trường bản địa, mà còn làm cho những người nhập cÆ° sau họ trở nên khó khăn hÆ¡n trong thích nghi. Vá»›i thành công của cuá»™c cách mạng cá»™ng sản ở Trung Quốc năm 1949, tình hình biến đổi hoàn toàn. Không chỉ có mối quan hệ chặt chẽ giữa lãnh đạo và cán bá»™ ở cả hai Đảng Cá»™ng sản Trung Quốc và Việt Nam,[iii][4] mà còn cả triết lý đã nuôi dưỡng Đảng Cá»™ng sản Đông DÆ°Æ¡ng đặc biệt nhấn mạnh vào nguyên tắc “chủ nghÄ©a quốc tế vô sản” và ý tưởng về ‘sá»± hiệp nhất của các đảng anh em’, được so sánh ẩn dụ vá»›i “môi và răng”. Các ấn phẩm gần đây đặc biệt nhấn mạnh vai trò của người Trung Quốc trong việc lập kế hoạch và thậm chí chỉ huy các chiến dịch quân sá»± trong các cuá»™c chiến do Việt nam Dân chủ Cá»™ng hòa  tiến hành chống Pháp và Hoa Kỳ[iv][5]. Thá»±c tế, vá»›i quan hệ chặt chẽ  Việt-Trung thời đó và kinh nghiệm quân sá»± của Trung Quốc, các nhà lãnh đạo dường nhÆ° đã cho phép Trung Quốc có quyền tham gia rá»™ng rãi và ảnh hưởng đến quyết định được Ä‘Æ°a ra trong chiến tranh. Chất lượng má»›i của mối quan hệ Trung-Việt thể hiện trong việc sá»­ dụng thuật ngữ “bọn phong kiến phÆ°Æ¡ng Bắc” để chỉ người Trung Quốc khi họ xâm chiếm Việt Nam. Do đó, sá»± nổi lên của cuá»™c xung Ä‘á»™t Trung-Xô vào cuối những năm 1950 và  bùng nổ năm 1960 dường nhÆ° là má»™t sá»± xáo trá»™n khủng khiếp của trật tá»± tá»± nhiên. TÆ°Æ¡ng tá»±, trong vòng 15 năm tiếp theo, trong khi cuá»™c chiến tranh chống Mỹ phát triển và tiếp tục qua các giai Ä‘oạn khác nhau, người Việt Nam đã kiên nhẫn quản lý được mối quan hệ kép, má»™t mặt nhận được sá»± trợ giúp thiết yếu từ Liên Xô và khối XHCN Châu Âu và mặt kia, từ  Cá»™ng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Chuyển đổi một cách hiệu quả mối quan hệ truyền thống được thể hiện dưới hình thức phiên thuộc thành một mối quan hệ mới trên cơ sở bình đẳng về lý thuyết đòi hỏi phải có sự điều chỉnh lớn trong quan điểm của mỗi quốc gia đối với phía bên kia. Đối với vấn đề đó, áp lực của Trung Quốc dưới bất kỳ hình thức nào cũng được người Việt Nam cảm nhận bằng trực giác như một mối đe dọa đối với sự sống còn của dân tộc. Mặt khác, sự khẳng định của Việt Nam về các lợi ích quốc gia chứ không phải chiều theo chính sách của Trung Quốc cũng được người Trung Quốc cảm nhận theo bản năng như một sự xấc xược gần với bất phục tùng. Như một hệ quả không thể tránh khỏi của sự khác biệt về quy mô giữa hai nước, những cảm xúc này vẫn còn nằm ở gốc rễ của quan hệ Trung-Việt ngày nay như đã từng xảy ra một hoặc hai ngàn năm trước đây. Những nguyên nhân khác nhau của sự đổ vỡ mối quan hệ hòa bình giữa hai nước năm 1978 (khôi phục lại những căng thẳng cũ dọc theo biên giới, sự can thiệp của người Việt để giúp lật đổ chế độ Pol Pot ở Cambodge) có lẽ ít quan trọng hơn so với việc Trung Quốc không thích ý tưởng về một nước Việt Nam thật sự độc lập. Quan hệ Việt-Trung xấu đi kể từ khi Trung Quốc cắt viện trợ vào giữa năm 1978 và kể từ khi Hiệp ước Liên Xô-Việt Nam được ký kết tháng 11 năm đó đã gần đạt đến điểm châm ngòi cho cuộc xâm lăng của Trung Quốc, một sự đảo ngược chính sách cũ của «giới phong kiến phương Bắc»[v][6]. Cuộc tấn công kéo dài 28 ngày này và việc quân đội Trung Quốc rút khỏi Việt Nam kéo theo những diễn biến liên quan, chẳng hạn việc trục xuất người Hoa ra khỏi Việt Nam, thay đổi cán cân lực lượng ở biên giới phía Nam Trung Quốc. Chiến tranh với Việt Nam là một cú tát vào mặt những người theo chủ nghĩa lý tưởng ở Trung Quốc vẫn còn tin vào tính đúng đắn của “chủ nghĩa quốc tế vô sản”[vi][7].

Tuy nhiên, quan hệ ngoại giao Việt-Trung không bị phá vỡ. Bên cạnh đó, khi Liên Xô sụp đổ,  Hà Ná»™i không còn cách nào khác ngoài việc sá»›m nối lại quan hệ vá»›i Bắc Kinh. Chắc chắn, sá»± e ngại và sá»± không đồng thuận vẫn dồn về những ý đồ của Trung Quốc. Những ngờ vá»±c sâu sắc trong lịch sá»­ giữa hai nÆ°á»›c sẽ không dá»… tiêu tan. Trong khi những người bảo thủ Việt Nam, đặc biệt là quân Ä‘á»™i, đánh giá Trung Quốc nhÆ° là đồng minh cá»™ng sản cuối cùng quan trọng nhất, các nhà cải cách chỉ ra mối Ä‘e dọa mà Trung Quốc có thể gây ra trong má»™t hoặc hai thập ká»· khi họ củng cố sức mạnh quân Ä‘á»™i, đặc biệt là hải quân. Tuy nhiên, người Việt Nam đã tích cá»±c tìm cách cải thiện và hoàn toàn bình thường hóa quan hệ thông qua má»™t loạt các chuyến thăm cấp cao và các hiệp định. Quan hệ của Việt Nam vá»›i Trung Quốc  ấm hÆ¡n vào năm 1989, má»™t thập ká»· sau khi quân Ä‘á»™i Trung Quốc tấn công miền Bắc Việt Nam để “dạy cho Việt Nam má»™t bài học” vì đã xâm lược Cambodge. ThÆ°Æ¡ng mại biên giá»›i hÆ°ng thịnh được khôi phục lại. Khách hàng từ khắp Việt Nam đến thị trấn biên giá»›i Ðồng Ðăng để giao thiệp vá»›i các thÆ°Æ¡ng gia tÆ° nhân để mua quạt, phích nÆ°á»›c, xe đạp, băng ghi âm, đồ gốm sứ, bia và hàng tiêu dùng khác do Trung Quốc sản xuất. ThÆ°Æ¡ng nhân Trung Quốc tìm mua hải sản, Ä‘á»™ng vật hiếm để làm thuốc, đồng, vải, rau, thịt và gạo. Về phần mình, Việt Nam đã từ bỏ các chính sách phân biệt đối xá»­ vá»›i Hoa kiều vốn đã khiến cho Bắc Kinh định tố cáo vào năm 1978. Quan chức Việt Nam đã sẵn sàng thừa nhận rằng họ đã mắc sai lầm trong cuá»™c vận Ä‘á»™ng  chuyển đổi xã há»™i chủ nghÄ©a tháng 3 năm 1978 để cải tạo công thÆ°Æ¡ng nghiệp, bắt các hãng công thÆ°Æ¡ng nghiệp tÆ° nhân theo tÆ° bản ở miền Nam – khoảng má»™t ná»­a trong số đó là người Hoa.

Rõ ràng, Trung Quốc đã trở thành má»™t cường quốc khu vá»±c duy nhất, làm bất cứ việc gì cÅ©ng phải xem xét mọi ý đồ và chính sách của họ. Vị trí của Trung Quốc trong sá»± cân bằng quyền lá»±c của châu Á có thể là của má»™t nÆ°á»›c Trung Hoa má»›i, má»™t phiên bản hiện đại bắt đầu hình thành rõ ràng khi Bắc Kinh tìm cách khôi phục lại vị trí lịch sá»­ của Trung Quốc nhÆ° là cường quốc của châu Á. Trong quan hệ quốc tế,  sức mạnh quân sá»±, chính trị ná»™i bá»™, tiến bá»™ kinh tế và chủ nghÄ©a dân tá»™c lên cao, Trung Quốc nổi lên nhÆ° má»™t cường quốc châu Á mà mọi quốc gia phải tính đến. Khái niệm Trung Quốc nhÆ° là cường quốc vượt trá»™i ở châu Á đã quay trở lại, vì vậy mà không má»™t quyết định nào Ä‘Æ°a ra mà thiếu sá»± phê chuẩn của Bắc Kinh[vii][8]. NhÆ°ng, khi Bắc Kinh tuyên bố bắt buá»™c phải có “mối quan hệ tốt đẹp vá»›i các nÆ°á»›c xung quanh”, Giang Trạch Dân đã trích dẫn Tân Hoa Xã, cÆ¡ quan thông tấn quốc gia Trung Quốc, nói về xung Ä‘á»™t Trung-Việt năm 1979  rằng “má»™t số vấn đề lịch sá»­ còn lại” có thể được giải quyết hợp lý, miá»…n là hai bên biết nhìn xa trông rá»™ng, hiểu nhau và tham khảo ý kiến ​​má»™t cách công bằng và hợp lý. Trong những trường hợp này, sức mạnh chính định hình chính sách đối ngoại của Việt Nam phải là Trung Quốc. Trong những năm gần đây, quay trở lại vá»›i Trung Quốc nhÆ° là má»™t nguồn há»— trợ tÆ° tưởng và chính thống, các nhà lãnh đạo Đảng Cá»™ng sản Việt Nam liên tục thá»±c hiện các chuyến hành hÆ°Æ¡ng của họ đến Bắc Kinh, nÆ¡i họ cam kết các mối quan hệ về ý thức hệ vá»›i các đối tác Trung Quốc của họ, viện dẫn các ngôn từ hoa mỹ của chủ nghÄ©a marxisme-léninisme và cam kết Ä‘Æ°a quan hệ Việt-Trung lên “má»™t tầm cao má»›i”.

Ngày 8 tháng 12 năm 1997, Lý Thụy Hoàn李瑞環, Ủy viên thường vụ Bá»™ Chính trị Đảng Cá»™ng sản Trung Quốc và là Chủ tịch Hiệp thÆ°Æ¡ng chính trị nhân dân Trung Quốc [Mặt trận tổ quốc], tuyên bố trong chuyến thăm Việt Nam: «Trung Quốc và Việt Nam núi liền núi sông liền sông, nhân dân hai nÆ°á»›c chia sẻ tình hữu nghị truyền thống qua bao đời nay. Trong cuá»™c đấu tranh cách mạng dài lâu, nhân dân Trung Quốc và Việt Nam đã ủng há»™ và giúp đỡ lẫn nhau, chia ngọt sẻ bùi, chiến đấu bên cạnh nhau và tạo ra má»™t sá»± đồng cảm cách mạng sâu sắc. Trong những năm qua, Trung Quốc và Việt Nam đã đạt được tiến bá»™ đáng kể trong mối quan hệ láng giềng và hữu nghị tốt đẹp. Trung Quốc và Việt Nam chia sẻ các mục tiêu và nhiệm vụ cÅ©ng nhÆ° những khó khăn chung … ». Đáp lại, Chủ tịch nÆ°á»›c Trần Ðức LÆ°Æ¡ng bày tỏ: “Việt Nam coi trọng mối quan hệ hữu nghị truyền thống vá»›i Trung Quốc, và sẽ làm việc hết mình để thá»±c hiện các mối quan hệ hợp tác vá»›i Trung Quốc má»™t cách toàn diện, trên tinh thần hữu nghị vào thế ká»· XXI”[viii][9]. Kể từ đó, các diá»…n ngôn chính thức đều nhấn mạnh mối quan tâm chung rất quan trọng mà cả Trung Quốc và Việt Nam đều chia sẻ là phát triển thành công “nền kinh tế thị trường xã há»™i chủ nghÄ©a”. Trung Quốc đứng má»™t mình trong số 5 quốc gia xã há»™i chủ nghÄ©a còn lại và được coi là thành công trong ná»— lá»±c thá»±c hiện tÆ° tưởng này. Hành trình tá»›i Trung Quốc để nghiên cứu khả năng áp dụng các cải cách thị trường xã há»™i chủ nghÄ©a kiểu Trung Quốc đối vá»›i Việt Nam, do đó là thiết yếu. Bốn tÆ°Æ¡ng đồng cÆ¡ bản giữa các cuá»™c cải cách ở Trung Quốc và Việt Nam được kể ra là: theo Ä‘uổi chủ nghÄ©a xã há»™i có tính đến Ä‘iều kiện của từng quốc gia; đổi má»›i và cải cách làm cÆ¡ sở thúc đẩy phát triển kinh tế và ổn định tình hình chính trị; huy Ä‘á»™ng nguồn lá»±c trong nÆ°á»›c đồng thời tận dụng hợp tác quốc tế; tất yếu phải có sá»± lãnh đạo của Đảng Cá»™ng sản.[ix][10]

Phát biểu trÆ°á»›c Quốc há»™i Việt Nam ngày 28 tháng 11 năm 1998, Bá»™ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyá»…n Mạnh Cầm tuyên bố: ” Nhận thức rõ ràng tầm quan trọng của quan hệ Việt-Trung, chúng ta đã tích cá»±c và chủ Ä‘á»™ng đẩy mạnh tình hữu nghị và quan hệ hợp tác vá»›i nÆ°á»›c Cá»™ng hòa Nhân dân Trung Hoa trong nhiều lÄ©nh vá»±c. Chúng ta cÅ©ng đã duy trì tất cả các cuá»™c họp cấp cao hàng năm. Sá»± kiện nổi bật nhất trong năm nay là chuyến thăm hữu nghị chính thức tá»›i Trung Quốc của Thủ tÆ°á»›ng Phan Văn Khải vào tháng 10. Việc trao đổi các chuyến thăm giữa các ngành và địa phÆ°Æ¡ng ở hai nÆ°á»›c tiếp tục phát triển tích cá»±c. Chỉ riêng trong 9 tháng đầu năm nay, 80 chuyến viếng thăm trao đổi đã được thá»±c hiện bởi các phái Ä‘oàn từ cả hai phía ở tất cả các cấp. Chúng ta đã tích cá»±c Ä‘Æ°a ra các biện pháp thiết thá»±c để tăng cường hiệu quả của hợp tác kinh tế, thÆ°Æ¡ng mại, đầu tÆ° và tăng khối lượng thÆ°Æ¡ng mại. Chúng ta Ä‘ang phấn đấu Ä‘Æ°a khối lượng thÆ°Æ¡ng mại song phÆ°Æ¡ng lên 2 tá»· đô la vào năm 2000. Gần đây, các hiệp định thÆ°Æ¡ng mại biên giá»›i, trợ giúp pháp lý và các dịch vụ lãnh sá»± sẽ giúp khôi phục lại trật tá»± quản lý khu vá»±c biên giá»›i. Chúng ta đã cố gắng đẩy nhanh quá trình đàm phán cho việc ký kết thoả thuận về biên giá»›i đất liền và thoả thuận về việc phân định Vịnh Bắc Bá»™ vào năm 2000 phù hợp vá»›i sá»± đồng thuận của các nhà lãnh đạo cấp cao của hai nÆ°á»›c. Nói tóm lại, chúng ta đã thá»±c hiện được những tiến bá»™ đáng kể trong mọi cuá»™c đàm phán”[x][11].

Về vấn đề biên giá»›i trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc, các cuá»™c đàm phán tẻ nhạt và không mang tính chiến lược, liên quan đến hàng trăm Ä‘iểm còn gây bất đồng trong Ä‘o lường liên quan đến những sai số dÆ°á»›i vài trăm mét có nguồn gốc từ má»™t bản đồ thế ká»· trÆ°á»›c. Tuy nhiên, tranh cãi về đất Ä‘ai biên giá»›i được giải quyết nhanh chóng. Tháng 12 năm 1999, Việt Nam và Trung Quốc đã đạt được má»™t thỏa thuận lịch sá»­ về phân định ranh giá»›i đất liền. Má»™t năm sau, má»™t thỏa thuận khác giải quyết vấn đề Vịnh Bắc Bá»™ bằng cách vẽ đường chia đều giữa Việt Nam và đảo Hải Nam. Tuy nhiên, hai bên vẫn còn xa nhau khi đề cập đến hai quần đảo trên biển Đông nÆ¡i họ có những tuyên bố tranh chấp về Trường Sa và Hoàng Sa[xi][12]. Hai nhóm đảo tranh chấp ngoài khÆ¡i bờ biển Việt Nam vẫn là những Ä‘iểm nóng tiềm ẩn trong quan hệ Việt-Trung. Trường Sa (Nam Sa theo tiếng Trung Quốc), “hòn đảo của những nÆ¡i nguy hiểm”, nhÆ° cách gọi của các thủy thủ thế ká»· XIV, có tầm quan trọng vì các mỏ dầu tiềm năng, các vùng đánh cá phong phú và vị trí chiến lược cùng vá»›i các tuyến vận tải chính thông qua biển  [Đông của Việt Nam]. Trung Quốc nhắc lại những gì họ gọi là “Chủ quyền không thể tranh cãi” kể từ triều đại nhà Đường đối vá»›i Trường Sa. Việt Nam tuyên bố chủ quyền dá»±a vào các bản đồ thời Pháp thuá»™c và bằng chứng khảo cổ học (đặc biệt là gốm Việt Nam có niên đại thế ká»· XIII). Má»™t số ná»™i dung tranh cãi liên quan đến vấn đề định nghÄ©a. Điều thá»±c sá»± quan trọng là hình ảnh mà những hòn đảo này đại diện, biểu tượng. Nếu mối quan hệ vá»›i Trung Quốc đã được cải thiện liên tục trong thập ká»· vừa qua kể từ khi bình thường hoá quan hệ, tất cả không có gì ngoài việc hoà giải liên quan đến Trường Sa.

Những tranh chấp lãnh thổ này vẫn còn âm ỉ, dù vào tháng 6 năm 2000, 21 năm sau khi hàng nghìn binh lính Trung Quốc đổ vào Việt Nam để dạy cho Việt Nam má»™t bài học vì đã xâm lược Cambogde vào Giáng sinh năm 1978, 16 trong số các quan chức cấp cao nhất của Việt Nam đã tá»›i Trung Quốc để thảo luận má»™t bài học khác, không được tuyên bố công khai: làm thế nào để cải cách má»™t nền kinh tế xã há»™i chủ nghÄ©a mà không mất Ä‘i sá»± kiểm soát của Đảng. Sá»± phát triển là má»™t Ä‘iều phi thường. Vá»›i nền kinh tế ảm đạm và Đảng Cá»™ng sản Việt Nam bị ám ảnh phải duy trì vai trò lãnh đạo, Hà Ná»™i dường nhÆ° tìm kiếm chá»— cứu há»™ trong mối quan hệ gần gÅ©i vá»›i kẻ thù lâu đời nhất [Chanda, 2000]. Được Ä‘iều hành bởi Uá»· viên Bá»™ Chính trị Trung Quốc Lý Đình Giá»›i 李廷介, các đại biểu Việt Nam đã tham gia “Toạ đàm lý luận” kéo dài 2 ngày, bắt đầu từ 13 tháng 6, sau đó đến Tây Nam Trung Quốc để tiến hành khảo sát thá»±c địa về cải cách kinh tế. Khi cuá»™c họp bắt đầu, Bắc Kinh tuyên bố đã cho Việt Nam 55 triệu đô la để nâng cấp hai nhà máy thép và phân bón do Trung Quốc xây dá»±ng. Cuá»™c họp là má»™t trong nhiều dấu hiệu của nối lại tình hữu nghị, nếu không thì là việc Việt Nam quay trở về vá»›i má»™t trong những vai trò lịch sá»­ của nó, trong đó Việt Nam là học sinh và Trung Quốc là thày giáo. Đây được gọi là thuật ngữ chính thức nhÆ° là tình bạn dá»±a trên “16 chữ vàng”, mà báo Nhân Dân của Đảng Cá»™ng Sản Việt Nam kể ra:  “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hÆ°á»›ng tá»›i tÆ°Æ¡ng lai” [xii] [13].

Tờ báo nhấn mạnh rằng việc trao đổi quan điểm và kinh nghiệm, đặc biệt trong giáo dục chính trị, giữa hai bên là rất cần thiết cho việc xây dựng và đổi mới đảng trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Như vậy, sự hiểu biết lẫn nhau và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ được phát triển theo nguyện vọng và lợi ích của mỗi quốc gia.

Rõ ràng, các Ä‘á»™ng thái chiến thuật nằm dÆ°á»›i sá»± ấm dần lên sau má»™t thời kỳ xung Ä‘á»™t giữa hai nÆ°á»›c. “Hãy nhá»› rằng, sau khi đánh bại Trung Quốc, chúng tôi luôn gá»­i lời tri ân”, má»™t  quan chức của Việt Nam nói về sá»± bá»±c bá»™i gần đây của Hà Ná»™i. Tuy nhiên, má»™t số ở Việt Nam nghi ngờ về sá»± khôn khéo đằng sau. Trần Bạch Ðằng, má»™t nhà lãnh đạo cá»™ng sản kỳ cá»±u ở thành phố Hồ Chí Minh, tuyên bố thẳng thừng rằng Trung Quốc Ä‘ang tiến hành chiến tranh kinh tế chống lại Việt Nam bằng cách làm tràn ngập thị trường của Việt bằng hàng hóa giá rẻ [Chanda, 2000]. Nói về tranh chấp lãnh thổ của Việt Nam vá»›i Trung Quốc ở biển Nam Trung Hoa, ông nói: “Trung Quốc là mối Ä‘e dọa không chỉ đối vá»›i Việt Nam mà còn đối vá»›i thế giá»›i. Trung Quốc đã tấn công tất cả các nÆ°á»›c láng giềng: Ấn Độ, Việt Nam và Nga”. Mặc dù họ chia sẻ các quan niệm chung về xã há»™i chủ nghÄ©a, sá»± gần gÅ©i về mặt địa lý, và các mối quan hệ đã bình thường hoá, cả hai quốc gia vẫn còn cảnh giác vá»›i nhau.

TÆ° tưởng và mối quan tâm quốc gia chi phối việc bình thường hóa và phát triển quan hệ Việt-Trung. Trung Quốc và Việt Nam Ä‘ang chứng kiến ​​má»™t tình huống má»›i khi cÆ¡ há»™i và thách thức cùng tồn tại. Vì cả hai quốc gia Ä‘ang chia sẻ má»™t gắn kết chung – tÆ° tưởng cá»™ng sản, cải cách kinh tế, và há»™i nhập trong nền kinh tế toàn cầu – họ thể hiện những tÆ°Æ¡ng đồng tuyệt đối. Các nhà lãnh đạo Việt Nam đặc biệt muốn biết Đảng Cá»™ng sản Trung Quốc đã cân nhắc ra sao những rủi ro đối vá»›i chế Ä‘á»™ Ä‘á»™c đảng khi tham gia WTO, và nó tác Ä‘á»™ng nhÆ° thế nào  đến người dân Trung Quốc. Họ muốn tìm hiểu làm thế nào để bảo đảm rằng nguyên tắc cá»™ng sản không bị phá vỡ khi mở cá»­a ra vá»›i kinh tế thế giá»›i[xiii][14]. CÅ©ng giống nhÆ° ở Trung Quốc, chống tham nhÅ©ng nhằm mục đích nhằm củng cố nền tảng chính trị của má»™t nhóm nắm quyền. Các nhà tÆ° tưởng Trung Quốc và Việt Nam đồng thuận trong việc đạo đức hóa hình ảnh Đảng Cá»™ng sản của họ để chống lại các cú sốc từ bên ngoài. Và cÅ©ng giống nhÆ° Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Việt Nam tìm thấy má»™t kẻ thù nÆ°á»›c ngoài thích hợp, và nếu nhÆ° không có, họ phải tạo ra: cáo buá»™c lâu dài về “gián Ä‘iệp nÆ°á»›c ngoài” không phải là Ä‘iều có thể được chứng minh, nhÆ°ng phục vụ má»™t mục đích tốt, vì vậy chính quyền Hà Ná»™i vẫn tiếp tục chiến dịch chống lại kẻ thù này. Đối vá»›i vấn đề đó, sá»± đàn áp của Trung Quốc giành cho Pháp Luân Công không nghi ngờ gì đã được các lãnh đạo Việt Nam khen ngợi và coi là nhằm tăng cường các xu hÆ°á»›ng đàn áp đối vá»›i bất kỳ nhóm nào cố gắng hoạt Ä‘á»™ng Ä‘á»™c lập vá»›i quyền lá»±c nhà nÆ°á»›c. Quan Ä‘iểm của Trung Quốc về nhân quyền và tá»± do tôn giáo là đối trọng chống lại áp lá»±c của phÆ°Æ¡ng Tây và củng cố mạnh thái Ä‘á»™ chính thức của Việt Nam.

Mặc dù vậy, mục tiêu cơ bản của Việt Nam vẫn là tránh phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc. Cuộc khủng hoảng châu Á đã làm thay đổi vị thế của Việt Nam trong không gian của khu vực. Tìm kiếm sự cân bằng giữa Đông Nam Á và Trung Quốc, chính phủ Việt Nam thực hiện một cách tiếp cận chiến lược và chính trị trong lĩnh vực quan hệ đối ngoại, ngược lại với hành động có xu hướng nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia của mình. Trên thực tế, việc Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995 chủ yếu là từ các động cơ chính trị: niềm tin rằng những xích mích xưa cũ giữa Việt Nam và Trung Quốc ít có khả năng bùng phát thành xung đột công khai khi Việt Nam thuộc về ASEAN, một nhóm có tầm quan trọng lớn đối với Trung Quốc. Trong khi đó, trong lĩnh vực kinh tế, Việt Nam cạnh tranh với Trung Quốc trong một loạt các mặt hàng xuất khẩu từ giày dép đến dệt may, và các doanh nhân địa phương đã kinh ngạc trước triển vọng đối mặt với một người khổng lồ cạnh tranh như vậy ở phía Bắc khi các cam kết cải cách của Trung Quốc với WTO được kích hoạt. Mối quan ngại là hàng hoá Trung Quốc, đã được bán rộng rãi ở Việt Nam, có thể tiếp tục tràn ngập khi nền kinh tế Trung Quốc tiếp tục tăng tốc. Hiện nay, mặc dù Hà Nội rõ ràng trải nghiệm những cảm xúc phức tạp về đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam, họ muốn thấy việc buôn lậu hàng Trung Quốc phải chấm dứt ở biên giới.

Như vậy, Việt Nam dựa vào hệ tư tưởng để đạt được các mối quan hệ song phương có khả năng ngăn ngừa xung đột còn bỏ ngỏ, trong khi thừa nhận vị thế quốc tế vượt trội hiện tại của Trung Quốc, đáp lại các cam kết của họ đối với an ninh và thương mại quân bình. Tất cả mọi thứ đều được xem xét, tuy nhiên, những tương đồng về ý thức hệ dường như vẫn chưa đủ để chiếm ưu thế trong suốt lịch sử thù hận và nghi kị mà cả Trung Quốc và Việt Nam đều có điểm chung[xiv][15].

T.P.H dịch

Tài liệu tham khảo:

Bùi Xuân Quang (2000),  La troisième guerre d’Indochine, 1975-1999. Sécurité et géopolitique en Asie du Sud-Est. Paris, L’Harmattan.

Chanda, Nayan (2000),  “Friend or Foe? Hanoi has embarked on a controversial policy of closer ties with its oldest enemy – China”. Far Eastern Economic Review, June 22.

Chemillier-Gendreau, Monique (1996) La souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys. Paris, L’Harmattan.

Đại-Việt sử ký toàn thư. Bản dịch:1983. Hanoi, Nxb. Khoa học Xã hội, vol. 1.

Eastman, Lloyd E. (1967), Throne and mandarins. China’s search for a policy during the Sino-French controversy, 1880-1885. Cambridge, Harvard U.P.

Goscha, Christopher E. (1999),  “Entremêlements sino-vietnamiens: Réflexions sur le sud de la Chine et la révolution vietnamienne entre les deux guerres”. Approches-Asie 16:81-108.

Hoàng Xuân Hãn (1967) “Vụ Bắc-Sứ năm Canh thìn đời Cảnh Hưng”. Sử Ðịa [History-Geography, Saigon] 6: 3-5, 142-155.

Nguyễn Thế Anh (1989) “La frontière sino-vietnamienne du xie au xviie siècle”. In Les frontiers du Vietnam. Paris, L’Harmattan: 65-69.

Nguyễn Thế Anh (1990), Le Đại-Việt et ses voisins. Paris, L’Harmattan.

Nguyá»…n Thế Anh (1996),  “L’immigration chinoise et la colonisation du delta du Mékong”. The Vietnam Forum, 1: 154-177.

Nguyá»…n Việt, VÅ© Minh Giang, Nguyá»…n Mạnh Hùng (1983), Quân thủy trong lịch sá»­ chống ngoại xâm. Hà Ná»™i:  Quân Ä‘á»™i nhân dân.

O’Harrow, Stephen (1979), “Nguyễn Trãi’s Bình ngô đại cáo 平吳大誥 of 1428: The Development of a Vietnamese National Identity”, Journal of Southeast Asian Studies,10-1.

Qiang Zhai (2000) China and the Vietnam wars, 1950-1975. Chapel Hill, University of North Carolina Press.

Stuart-Fox, Martin (2002) China and Southeast Asia. St Leonards, Allen and Unwin, 2002.

Taylor, Keith W. (1983) The Birth of Vietnam. Berkeley, University of California Press.

Trocki, Carl A. (1997) “Chinese Pioneering in Eighteenth-Century Southeast Asia”, The Last Stand of Asian Autonomies, A. Reid ed. Houndmills, Macmillan Press: 83-101.

Trương Bửu Lâm(1968). “Intervention versus tribute in Sino-Vietnamese relations”. In The Chinese World Order, John K. Fairbank ed. Cambridge, Harvard U.P.: tr.165-179.

Văn học Việt Nam trên những chặng đường chống phong kiến Trung Quốc xâm lược (1981),  Hanoi, Nxb. Khoa học Xã há»™i.

Việt sử lược. Trần Quốc Vượng dịch: 1960. Hà Nội: Văn Sử Địa, 1960.

Wolters, O. W. (1979), “Historians and emperors in Vietnam and China: Comments arising out of Lê Văn Hưu’s History, presented to the Trần court in 1272”. In Perceptions of the Past in Southeast Asia, A. Reid & D. Marr ed. Singapore, Heinemann.

Wolters, O. W. (1999), History, Culture and Region in Southeast Asian Perspectives. Ithaca, seap.

 Woodside, Alexander (1971), Vietnam and the Chinese Model . Cambridge, Harvard University Press.

 Woodside, Alexander (1982), “Conceptions of Change and of Human Responsibility for Change in Late Traditional Vietnam”. In Moral Order and the Question of Change:Essays on Southeast Asian Thought , David K. Wyatt & Alexander Woodside ed. New Haven, Yale Univ. Southeast Asian Studies: tr.104-150.

Woodside, Alexander (1988) “Vietnamese History: Confucianism, Colonialism, and the Struggle for Independence”, The Vietnam Forum  11: 21-48.

Woodside, Alexander (1997). “The Relationship between Political Theory and Economic Growth in Vietnam, 1750-1840”. In The Last Stand of Asian Autonomies. Responses to Modernity in the Diverse States of Southeast Asia and Korea, 1750-1900 , A. Reid ed.Houndmills, Macmillan Press: tr. 245-268.


[i] [2] Ở nửa sau thế kỷ XIX, người phát ngôn Trung Quốc là Tăng Kỷ Trạch vẫn còn tuyên bố rằng “Việt Nam thuộc Trung Hoa”, do đó “Trung Hoa có trách nhiệm bảo hộ toàn bộ lãnh thổ của Việt Nam” (dẫn theo Eastman, 1967: 39).

[ii] [3] Xem Nguyễn Thế Anh, 1996 và Trocki, 1997.

[iii] [4] Về những tranh luận của mối quan hệ qua lại trước 1945 giữa ĐCS Trung Quốc và Việt Nam, xem Goscha, 1999.

[iv] [5] Quang Zhai 2000.

[v] [6] Về vấn đề này, xem Bùi Xuân Quang: 2000.

[vi] [7] Trong ghi chép cá nhân, Martin Stuart-Fox cho rằng cú tát này lớn hơn đối với những người theo chủ nghĩa lý tưởng ở Việt Nam vốn hy vọng “chủ nghĩa quốc tế vô sản” có thể thay thế cho “chủ nghĩa bành trướng” truyền thống.

[vii] [8] Xem Stuart-Fox 2002, tác giả chứng minh rằng, khi sức mạnh của Trung Quốc gia tăng và chủ nghĩa Marx được thay thế bằng chủ nghĩa dân tộc, không chỉ Trung Quốc quay trở lại các mối quan hệ truyền thống với Đông Nam Á, mà các quốc gia Đông Nam Á cũng đang đáp lại theo cùng một hướng.

[viii] [9] Xinhua Domestic Service [Phát thanh quốc nội của Tân Hoa xã], 8/12/1997.

[ix] [10] Nhân Dân, 16/10/1998.

[x] [11] Bài phát biểu của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm tại phiên khai mạc thứ 4, kỳ họp thứ 10 Quốc hội Việt Nam, 28/11/1998.

[xi] [12] Xem Chemillier-Gendreau: 1996.

[xii] [13] Kể từ khi bình thường hoá quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam năm 1991, việc trao đổi chuyến thăm và tÆ° vấn thường xuyên về các vấn đề lá»›n giữa lãnh đạo hai nÆ°á»›c được coi là đóng má»™t vai trò không thể thay thế trong việc thúc đẩy quan hệ song phÆ°Æ¡ng. Gần đây, trong má»™t bài xã luận ngày 7 tháng 9 năm 2001, báo Nhân Dân mô tả chuyến thăm Hà Ná»™i của Chủ tịch Uá»· ban Thường vụ Quốc há»™i Trung Quốc Lý Bằng nhÆ° má»™t nguồn Ä‘á»™ng viên cho nhân dân Việt Nam và má»™t biểu hiện sống Ä‘á»™ng của hai nÆ°á»›c mong muốn phát triển mối quan hệ trên nguyên tắc “:  “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hÆ°á»›ng tá»›i tÆ°Æ¡ng lai””. Tờ báo này cÅ©ng ca ngợi những thành công lá»›n của nhân dân Trung Quốc dÆ°á»›i sá»± lãnh đạo của Đảng Cá»™ng sản Trung Quốc đã đạt được thành tá»±u trong xây dá»±ng quốc gia, phát triển kinh tế đều đặn trong hÆ¡n hai thập ká»· cải cách và mở cá»­a. Tờ báo nhắc lại rằng, kể từ đầu những năm 1990, hai nÆ°á»›c đã phấn đấu để thúc đẩy kinh tế chính trị, trao đổi văn hoá nhằm nâng cao hợp tác toàn diện song phÆ°Æ¡ng trong các khía cạnh má»›i. 

[xiii] [14] Cụ thể, quyết định đưa ra vào giữa năm 2001 để hoàn thiện sửa đổi hiến pháp năm 1992, với chủ trương tôn vinh quyền của khu vực tư nhân, khuyến khích Việt Nam bám sát kế hoạch của Trung Quốc trong việc cho phép các doanh nhân tham gia Đảng Cộng sản cầm quyền.

[xiv] [15] Việc thay thế Lê Khả Phiêu trong chức vụ  người đứng đầu Đảng Cá»™ng sản Việt Nam vào đầu năm 2001 là do quá gần gÅ©i vá»›i Trung Quốc và những cáo buá»™c ông đã nhân nhượng quá nhiều trong đàm phán đường biên giá»›i vá»›i Bắc Kinh, luôn được coi là đối thủ truyền thống của Việt Nam mặc dù có hệ tÆ° tưởng chung.

http://viet-studies.net/kinhte/NguyenTheAnh_SucHutLucDayQuanHeVietTrung.html

46 năm nhìn lại Truyền Thông Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam và ngày nay – Thái Hóa Lộc

Wednesday, April 21st, 2021
Nghe âm thanh do Đỗ Hiếu đọc

Thái Hóa Lộc

Những người lính Việt Nam Cộng Hòa và những người Việt tị nạn Cộng Sản mỗi lần Tưởng niệm ngày Quốc Hận 30-4 đều ngậm ngùi nhớ về dĩ vãng đau thương, ngày Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử và những thảm họa xảy ra sau đó. Ngày mà hàng vạn người bỏ xác nơi rừng sâu, vùi thân dưới đại dương chấp nhận cái chết để tìm tự do và còn nhiều oan khiên khác trong các trại tù Cộng sản, nơi đày ải các cựu quân, cán chính Việt Nam Cộng Hòa. Hậu quả đã đưa đến thảm trạng này cho đến ngày nay không ai có thể phủ nhận vai trò truyền thông Hoa Kỳ đã trực tiếp làm đảo ngược tình hình thực tế và đưa đến sự suy vong của Việt Nam Cộng Hòa.

Nếu năm 1950 chỉ có khoảng dưới 10% gia đình Mỹ có truyền hình thì đến năm 1966, khi cuộc chiến Việt Nam leo thang và có khoảng hơn 400 ngàn lính Mỹ đang tham chiến tại Việt Nam với khoảng sáu ngàn binh sĩ tử trận, đã có hơn 90% gia đình Mỹ có truyền hình và theo dõi tin tức chiến sự từ Việt Nam qua truyền hình. Truyền thông với cuộc chiến truyền hình (television war) đã đóng vai trò và ảnh hưởng gì đến kết quả cuộc chiến? Các phương tiện kỹ thuật và nghiệp vụ tân tiến hơn gấp bội so với Đệ Nhị Thế Chiến, các ký giả trẻ luôn muốn có những tấm ảnh, thước phim hay các phóng sự trực tiếp và đầu tiên đến công chúng Mỹ và thế giới. Các thước phim thu được đã nhanh chóng chuyển về Tokyo để hoàn tất các bước kỹ thuật và biên tập cần thiết và chuyển về Mỹ để phát sóng hay có thể dùng vệ tinh cho các bản tin nóng sốt, được đăng báo hay phát trên truyền hình, nơi người dân Mỹ có thể theo dõi chiến cuộc cùng tin tức con cái họ ngay trong phòng khách của mình.

Các phong trào nhân quyền phát triển mạnh mẽ hơn, một trong điều được giới sử gia nhìn nhận là truyền thông trong chiến tranh Việt Nam đã không bị kiểm duyệt nhờ vào quyền tự do báo chí. Không chỉ theo dõi các hình ảnh, các phóng sự, công chúng Mỹ còn dựa vào các bình luận của những nhà bình luận chính trị và phân tích thời cuộc. Hàng loạt các tên tuổi truyền thông gạo cội của Hoa Kỳ được biết đến từ thời chiến tranh Việt Nam.

Chính vì vậy mà tin tức và diễn biến của chiến tranh Việt Nam đã áp đảo tại Mỹ trong nửa cuối thập niên 60s tại Mỹ đã gây nên cảm xúc và ảnh hưởng đến nhìn nhận của đại chúng. Lần đầu tiên người dân Mỹ chứng kiến những hình ảnh và thước phim hoặc nguyên thủy hay kịch tính hóa về sự khốc liệt, bạo tàn của chiến tranh với hình ảnh gian khổ, nguy hiểm rồi thương tích, chết chóc của người lính đánh động vào người xem rất lớn, dẫn đến làn sóng phản đối chiến tranh khi con số tử vong của binh sĩ Hoa Kỳ cùng chi phí chiến tranh ngày càng tăng cao.

Những người chống chiến tranh cho rằng đó là một cuộc chiến không cần thiết và người lính Mỹ chết tại nơi xa lạ nào đó không phải để bảo vệ cho chính họ, cho chính nước Mỹ. Mà nó là sự sai lầm của chính phủ để bị sa lầy vào một cuộc chiến thoạt đầu ngỡ chỉ là một cuộc thanh trừng phiến quân sẽ nhanh chóng kết thúc khi 3,500 lính Thủy Quân Lục Chiến thiện chiến được chỉ huy bởi những cấp chỉ huy tài ba trong chiến tranh Triều Tiên hay Đệ Nhị Thế Chiến đổ bộ xuống Đà Nẵng vào tháng Ba năm 1965. Truyền thông nghĩ rằng họ chỉ làm công việc tường trình chiến tranh còn các quyết định hay chiến lược là từ Ngũ Giác Đài và các đời tổng thống. Họ không có thẩm quyền hay khả năng can dự, bắt đầu hay kết thúc cuộc chiến ngoài việc thực hiện vai trò của mình. Truyền thông Hoa Kỳ đã không công bình và trung thực khi đưa tin và hoàn toàn gây mất thiện cảm với người dân Hoa Kỳ nhất là những gia đình có con cái hoặc thân nhân tham chiến tại Việt Nam.

Không ít người cho rằng truyền thông đã góp phần ảnh hưởng và chịu trách nhiệm về sự thất bại của cuộc chiến Việt Nam. Sau gần nửa thế kỷ, có vô số lý do và sự thật về cuộc chiến Việt Nam vẫn đang còn là điều gây tranh cãi, khó lòng thỏa mãn cho tất cả những bên dự phần. Nhìn vào vai trò và trách nhiệm ở mỗi góc khác nhau, kể cả vai trò của truyền thông Hoa Kỳ, sẽ cho người ta ghép lại phần nào bức tranh toàn cảnh của cuộc chiến đầy ám ảnh này…

Truyền thông Hoa Kỳ ngày nay đã biến dạng đang hướng dẫn quần chúng Mỹ theo đường lối có chủ đích mà họ muốn. Sức mạnh truyền tin và sức mạnh big tech đang làm lũng đoạn chính trị và đường lối của Hoa Kỳ rất trầm trọng. Chính vì vậy theo Breitbart đưa tin Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Josh Hawley vào ngày 19/4 đã giới thiệu một dự luật nhắm mục tiêu vào các công ty Big Tech, bao gồm việc kiểm soát các hành vi bị lên án trong thời gian qua của Amazon và Google. Dự luật cấm Big Tech vận hành công cụ tìm kiếm, thị trường và sàn giao dịch bán hoặc quảng bá hàng hóa và dịch vụ của chính họ thông qua các thị trường và công cụ tìm kiếm nói trên. Nếu được thông qua, đây sẽ là một đòn giáng mạnh vào Amazon và Google, những công ty thường xuyên tham gia vào cả hai hoạt động này.

Trong một điều khoản khác có vẻ như được thiết kế riêng để kiềm chế Amazon và Google, dự luật cấm các công ty cung cấp công cụ tìm kiếm, thị trường và sàn giao dịch đối với “dịch vụ lưu trữ và cơ sở hạ tầng internet” cho các bên thứ ba.Theo đạo luật này, Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC) sẽ giám sát việc tuân thủ các quy định đối với Big Tech. Tổng chưởng lý của tiểu bang và các thực thể bị thiệt hại do các công ty công nghệ vi phạm luật được trao quyền khởi kiện.Amazon đang dẫn đầu thị trường về dịch vụ lưu trữ đám mây, trong khi Google điều hành một dịch vụ tương tự có tên là Google Cloud. Google cũng vận hành Google Fiber, cung cấp Internet băng thông rộng và IPTV trên toàn quốc.Amazon đã đơn phương chấm dứt hợp đồng cung cấp dịch vụ lưu trữ đám mây cho Parler, một mạng xã hội ủng hộ quyền tự do ngôn luận. Trong khi đó Google bị cáo buộc kiểm duyệt thông tin dựa trên quan điểm chính trị và có mối quan hệ mờ ám với Đảng Cộng sản Trung Quốc.Thượng nghị sĩ Hawley cho biết: “Các công ty Big Tech như Google và Amazon đã được các chính trị gia ở Washington nâng đỡ trong nhiều năm”. “Kiểu cư xử này đã cho phép họ tích lũy được lượng quyền lực khổng lồ mà họ sử dụng để kiểm duyệt các quan điểm chính trị mà họ không đồng ý và loại bỏ các đối thủ cạnh tranh cung cấp cho người tiêu dùng một giải pháp thay thế cho hiện trạng”.Ông cho biết thêm: “Đã quá đủ để loại bỏ các công ty của Big Tech, khôi phục sự cạnh tranh và trao lại quyền lực cho người tiêu dùng Mỹ”.Truyền thông ngày nay không còn là truyền tin nữa , mà là cơ quan tuyên truyền cho đảng phái, phe nhóm. Người xem cũng biết rõ mình muốn nghe cái gì; không còn trung thực nữa.

Trung tâm Nghiên cứu Truyền thông (MRC) đã xem xét cách thức các đài ABC, CBS và NBC đưa tin về nhiệm kỳ tổng thống của ông Trump và ông Biden từ ngày nhậm chức đến ngày 9/4.MRC kết luận rằng “Trong ba tháng đầu tiên nắm quyền, các bản tin phát sóng buổi tối đã đưa 59% tin tích cực cho ông Biden. Bốn năm trước, chính những chương trình này đã tấn công ông Trump với 89% tin tiêu cực – đây là một sự tương phản đáng ngạc nhiên”.

Cụ thể Trung tâm MRC cho biết: “Bốn năm trước, ông Trump đã phải đối mặt với việc bị báo chí đưa tin tiêu cực từ đầu nhiệm kỳ. Theo ghiên cứu  vào thời điểm đó cho thấy ba bản tin buổi tối đưa 89% tin tiêu cực về Tổng thống mới, một sự thù địch chưa từng có thể hiện cách tiếp cận của giới truyền thông trong bốn năm tiếp theo của cựu TT Trump. Ngày nay, Tổng thống Biden có bối cảnh truyền thông thân thiện hơn nhiều. Nhìn chung, trong những tuần đầu tiên, chúng tôi nhận thấy tin tích cực về chính quyền Biden là 59%, tiếp nối cho cách đưa tin tích cực của các đài này với ông Biden trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm ngoái”.

Nghiên cứu của MRC chỉ ra mức độ đưa tin tích cực cho TT Biden phụ thuộc vào các chủ đề khác nhau. Ví dụ, các phương tiện truyền thông đã đưa tin rất tích cực về cách chính quyền Biden phản ứng với COVID-19, dự luật cứu trợ COVID khổng lồ trị giá 1,9 nghìn tỷ USD và dự luật cơ sở hạ tầng trị giá 2,25 nghìn tỷ USD do ông Biden đề xuất. Các chủ đề khác, như việc chính quyền Biden giải quyết cuộc khủng hoảng biên giới phía Nam và kiểm soát súng, hầu hết đều nhận được tin tức tiêu cực từ báo chí.

Hoa Kỳ ngày nay không còn cơ quan truyền thông nữa mà chỉ có các cơ quan tuyên truyền thôi và các mạng xã hội lại có điều kiện xuất hiện khắp nơi tha hồ tung tin fake news – tin giả. Ai muốn nghe phe nào cũng có tùy theo thị hiếu của mình.

Thử tìm một lộ trình đấu tranh vì Tự Do Dân Chủ cho Dân Tộc Việt Nam – Đại Dương

Thursday, April 15th, 2021
Nghe âm thanh do Đỗ Hiếu đọc

                                                                 Đại-Dương

Chiếc xe tăng của Cộng quân húc sập cổng Dinh Độc Lập ngày 30/04/1975 đã dè đẹp khát vọng độc lập, tự do, dân chủ của của dân tộc Việt Nam vì Cộng sản xé nát Hiệp ước Paris 1973 quy định lộ trình Hoà giải Hoà hợp Dân tộc.

Thực tế não nùng

Hoà giải Hoà hợp Dân tộc chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn khi dân Việt Nam Cộng Hoà “nhận họ” và người Miền Bắc cũng như từ bưng biền “nhận hàng”.

(more…)

Báo chí Việt Nam viết gì về ngày ‘TQ chiếm Hoàng Sa’? – Hoàng Hải Vân

Tuesday, January 19th, 2021

Hoàng Hải Vân – 47 năm uất hận Hoàng Sa, hãy nhớ ai mới thực sự là bạn của chúng ta !

19/1/2021

Nguồn hình ảnh, HOANG DINH NAM/Getty Images

Các báo ‘lề phải’ của Việt Nam và nhiều người dùng mạng xã hội tại Việt Nam hôm 19/1 đồng loạt đăng thông tin kỷ niệm ngày ‘TQ chiếm Hoàng Sa’ (19/1/1974).

(more…)

Chuyện muốn nói với 200 Ủy viên Trung ương trước thềm đại hội – Bùi Quang Vơm

Friday, January 1st, 2021

31/12/2020

Phát biểu khai mạc hội nghị trung ương 13, ngày 5/10/2020, gọi là Hội nghị «Dự thảo báo cáo chính trị», ông Trọng nói:

(more…)

Tiết lộ danh sách ứng viên Bộ Chính trị và Ban Bí thư khoá XIII CSVN – Phạm Vũ Hiệp

Thursday, December 17th, 2020
(more…)

EU thông qua Đạo luật Magnitsky –ảnh hưởng gì đến Việt Nam? – VOA Tiếng Việt

Saturday, December 12th, 2020

11/12/2020

(more…)

Nguyễn Lương Tuyền – Phải Tiêu Diệt Văn Hóa Của Giống Lạc Hồng

Tuesday, December 8th, 2020

8/12/2020

Ban Tu Thư TVVN

Văn Hóa của một dân tộc là gì?

Có khoảng hơn 400 định nghĩa khác nhau về văn hóa. Ta chỉ xem xét vài định nghĩa thường đọc thấy,

Sau đây là định nghĩa, khái niệm về văn hoá của Tổ Chức Văn Hóa Quốc Tế (UNESCO) trong Hội Nghị về Văn Hóa Quốc Tế họp năm 1982 tại Mexico:

– Văn Hoá là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội.

– Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, như tập tục tín ngưỡng…

Theo Việt Nam Văn Hóa Sử Cương (Đào Duy Anh), Văn Hóa được định nghĩa như sau: hai tiếng văn hóa chỉ chung các sinh hoạt của của một dân tộc, của một nhóm người……. Các dân tộc có sinh hoạt khác nhau nên văn hóa của các dân tộc cũng khác nhau. Vì vậy văn hóa thay đổi khi cuộc sống của con người biến thiên thay đổi. Văn hoá của chúng ta, ngày nay, có những điểm khác với văn hóa của các thế hệ trước. Văn chương, chữ nghĩa, âm nhạc cũng như tôn giáo… chỉ là một phần của văn hóa.

Tóm lại, Văn Hóa phản ảnh các sinh hoạt của một dân tộc, một nhóm người, một tập thể trên tất cả mọi phương diện. Một dân tộc, một tập hợp vô văn hóa sẽ bị đào thải hoặc bị đồnh hóa nghĩa là sẽ biến mất trên thế gian này.

Đảng Cộng Sản Việt Nam và Văn Hóa Việt.

Ngay từ những ngày Chủ Nghĩa Cộng Sản mới được đưa vào VN, Hồ Chí Minh và đồng bọn đã chú trọng đặc biệt đến khía cạnh văn hóa của đất nước trong tiến trình ”Cộng Sản hóa quê hương ”. Năm 1943, Trường Chinh, Tổng Bí Thư (lý thuyết gia của Đảng CS) đã vạch ra những nét chánh của chính sách văn hóa của Đảng CSVN trong Luận Cương ĐỀ CƯƠNG VĂN HÓA.

– mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (chính trị, kinh tế và văn hóa) ở đó người Cộng Sản phải hoạt động. Đảng không phải chỉ làm cách mạng chính trị mà phải làm cách mạng văn hóa nữa. Người CS quan niệm có lãnh đạo được phong trào văn hóa, Đảng mới có thể có được ảnh hưởng đến dư luận, việc tuyên truyền cho chủ nghĩa Cộng Sản của Đảng mới có hiệu quả.

– cách mạng văn hóa ở VN phải dựa vào cách mạng giải phóng dân tộc mới có điều kiện phát triển.

Năm 1948, trong kỳ Đại Hội Đảng, Trường Chinh đã có bài tham luận: ”Chủ nghĩa Mác và Cách Mạng Việt Nam’, trong đó Trường Chinh nhấn mạnh về lập trường văn hóa của Đảng như sau:

– về xã hội: lấy giai cấp công nhân làm gốc
– về độc lập: lấy độc lập dân tộc, dân chủ nhân dân và chủ nghĩa xã hội làm gốc.
– về tư tưởng: lấy học thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử quan làm gốc.
– về sáng tác văn nghệ: lấy chủ nghĩa xã hội làm gốc.

Trong một kỳ họp các người làm văn nghệ, báo chí, Trường Chinh đã tuyên bố: ”các đồng chí đã hiến dâng con tim cho Cách Mạng, cho Đảng vậy các đồng chí phải sáng tác theo những điều đã được Đảng đề ra. Các đồng chí phải sáng tác theo tinh thần xã hội chủ nghĩa ”.

Các Đại Hội Đảng kế tiếp đều xác định sự quan trong của cách mạng văn hóa:

– tranh đấu bảo vệ học thuyết tư tưởng; đề cao thuyết duy vật biện chứng, duy vật lịch sử. Đánh tan những quan niệm sai lầm của Triết học Âu, Á có nhiều ảnh hưởng tai hại trên nước ta như Khổng Mạnh, Descartes, Bergson, Kant, Nietzstche…

– mục tiêu của cách mạng văn hoá là xây dựng ”con người mới, con người xã hội chủ nghĩa” như Hồ Chí Minh đã phác hoạ; ” muốn có chủ nghĩa xã hội cần phải có con người xã hội chủ nghĩa”

– phải coi quá trình xây dựng nền văn hóa mới là đấu tranh không khoan nhượng, xóa bỏ và đẩy lùi các văn hóa phản động, đồi trụy do chủ nghĩa thực dân mới của Đế Quốc Mỹ để lại hay do các âm mưu của các lực lượng phản động

– nền văn hóa mới của ta xây dựng là nền văn hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc, có Đảng tính, Tính Nhân Dân xâu sắc.

Đảng đã đưa ra các chỉ thị về đương lối sáng tác cho các văn nghệ sĩ noi theo: đó là sáng tác để phục vụ Đảng, phục vụ Xã Hội Chủ Nghĩa. Những ai sáng tác ra ngoài đường lối do Đảng đưa ra sẽ bị loại trừ không nhân nhượng. Vụ Nhân Văn Giai phẩm tại Miền Bắc năm 1956 là thí dụ điển hình về sự kiểm soát bằng bàn tay sắt của Đảng đối với các văn nghệ sĩ của Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa.

Cộng Sản Chủ Nghĩa và Con Người Việt Nam: Trong quá trình áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản lên dân tộc, CSVN đã dùng mọi phương tiện trong đó có bạo lực giết người, dối trá, lưòng gạt ,tuyên truyền …

Chủ nghĩa xã hội hay đúng hơn văn hóa Cộng Sản đã biến đổi Người Việt. Hơn 20 năm Cộng Sản tại Miền Bắc, hơn 42 năm Cộng Sản hóa toàn nước Việt, Văn Hóa Cộng Sản đã để lại những vết hằn cực kỳ xấu xí (cicatrices indélébiles) trên người dân Việt.

Chế độ CS đã làm thay đổi hoàn toàn con người Việt Nam. Sống ở VN Xã Hội Chủ Nghĩa, phần lớn người Việt trở nên tàn bạo, tráo trở, dối trá, vô cảm, ích kỷ. Xã hội CS là một xã hội đầy bất công, đầy những lường gạt, ăn cắp (viên chức to: ăn cắp lớn, người dân đen: ăn cắp nhỏ) Đi đâu cũng phải hối lộ (như vào nhà thương hay nhà ghét, phải hối lộ từ trên xuống dưới, từ quan Bác Sĩ đến bác Y Công ). Văn hóa ”phong bì” trở nên phổ thông hơn bao giờ hết tại khắp mọi nơi. Người chiến binh CS khi vào Nam reo chết chóc, tàn phá, đã biểu lộ hoàn toàn bản chất tàn ác, thú vật …. của họ. Ta nhớ lại những cuộc tàn sát không gớm tay, man rợ chưa từng thấy, không còn mảy may nhân tính người nhắm vào những người dân lành vô tội tại những nơi do họ kiểm soát. Thí dụ như cuộc tàn sát dân lành ở Huế trong dịp Tết Mậu Thân 1968. Trên khắp Miền Nam, các người CSVN đã hành sử như những con thú hoang dã như Nhà thơ Cung Đình Tố Hữu đã viết trong quá khứ:

”Giết, giết nữa bàn tay không nghỉ.
Cho ruộng vườn , bông lúa được bền lâu

để rồi

Thờ Mao Chủ Tich, thờ Staline bất diệt”

Chính Hồ Chí Minh, lãnh tụ của CSVN cũng đã hơn một lần lộ rõ bản chất tàn bạo, thú vật của Y. Khi quyết định xử bắn Bà Cát Hanh Long Nguyễn Thị Năm, một người ”ơn của Cách Mạng. Bà Cát Hanh Long đã cho Hồ và nhiều tên đầu sỏ CS khác như Phạm Văn Đồng, Sao Đỏ Nguyễn Lương Bằng … tá túc, ăn ở tại nhà của Bà”. Hồ đã đội mũ, đeo râu giả để đi xem vụ giết người này như thể đi xem một vở hát chèo. Người CSVN đâu còn một mảy may lương tâm. Lương tâm của họ đã hóa đá hết rồi.

Sau ngày 30/4/1975, các người cầm đầu của Đảng CSVN như Đỗ Mười …. đã tức tốc vào Nam để chỉ huy các ” công trình ”ăn cướp, vơ vét tài sản của dân Miền Nam bằng các chiến dịch đổi tiền, các chiến dịch ” đánh tư sản” , hay chiến dịch cướp của trắng trợn, biến toàn dân Miền Nam thành những người vô sản trong một sớm một chiều.

Cuộc ”cướp của” nhắm vào dân Miền Nam chưa chấm dứt ở các chiến dịch đổi tiền, các chiến dịch ”đánh tư sản”, mà nó còn kéo dài cho tới những năm 80’s. Các ”đồng chí CS” cố truy lùng ăn cướp tài sản của dân Miền Nam cho tới khi họ trở thành vô sản đến cùng tỷ. Các chuyến đi vượt biển gọi là đi ”đăng ký” do chính CS tổ chức nhằm vơ vét tận chỉ vàng cuối cùng của người dân trước khi đẩy họ ra biển trên những chiếc thuyền mong manh, sống chết mặc bay, tiền thầy (CS) đút túi. Thực là bất nhân vô cùng khi thu tiền, vàng của người dân rồi đẩy họ vào con đường chết. Lương tâm của con người CS là đây chăng? Hỡi các đồng chí CSVN!! Ta tự hỏi.

Tóm lại chủ nghĩa CS, văn hóa CS đã tạo ra một giống người khác hẳn chúng ta. Đám lãnh đạo Đảng CSVN là một lũ quỉ đội lốt người. Hồ Chí Minh, lãnh tụ tối cao, sáng lập của Đảng CSVN là một tên cực kỳ ác độc, một con quỉ dâm dục sản phẩm điển hình của chủ nghĩa CS. Đối với Hồ, Y đã thực hiện trung thực giáo điều Các Mác: vô gia đình, vô tổ quốc của người Bolchevik, Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản.

Người dân – sau nhiều năm bị nhào nặn, tuyên truyền bởi một chế độ bất nhân, chà đạp lên nhân phẩm của con người – nên trở nên chịu đựng, chấp nhận số phận để sống còn, sống hoàn toàn bằng bản năng sinh tồn. Họ đã mất hết đảm lược, ý chí cương quyết để đứng lên đòi quyền sống xứng đáng với thiên chức của con người. Vả lại, mọi chống đối, đòi hỏi đều bị CS dập tắt ngay, không thương tiếc.

Gia đình là nền tảng của xã hội trong khi đối với người CS nền tảng gia đình cũ phải bị hủy diệt vì CS là vô gia đình. Những giá trị, truyền thống gia đình từ ngàn xưa bị CS tìm mọi phương cách để tiêu diệt thay vào đó là nền văn hóa xã hội chủ nghĩa; nền văn hóa trong đó người trong cùng một gia đình tố cáo, nghi kỵ lẫn nhau. Người CS coi đạo hiếu là một xa xỉ phẩm còn rớt lại của thời phong kiến. Người ta đã thấy cảnh con tố cha, vợ tố chồng trong cuộc ” cải cách ruộng đất long trời lở đất ” của những năm 1954-1956 tại Miền Bắc nước Việt ngay sau khi CS kiểm soát toàn miền Bắc.

Tôn Giáo hòa đồng là một nét đặc thù của văn hóa Việt Nam. Cộng Sản là vô Tôn giáo. Cộng Sản coi Tôn giáo là ”thuốc phiện” cần phải loại trừ. CS tìm đủ mọi cách để tiêu trừ ảnh hưởng của tôn giáo lên người dân. Các Giáo Hội bị CS đàn áp, họ dùng đủ mọi cách để tiêu diệt bằng những hạn chế tu học, những giáo hội quốc doanh…. Tài sản của các giáo hội bị tịch thu để các giáo hội không còn phương tiện để phát triển, giáo phẩm bị đàn áp, tù đầy. Việc đào tạo những hàng giáo phẩm mới để thay thế những người quá già hay bệnh hoạn cũng bị Chánh phủ Cộng Sản làm khó dễ, phải xin phép nhà cầm quyền. CSVN đã huấn luyện một số không nhỏ sư quốc doanh trẻ tuổi. Các sư quốc doanh này được đưa ra sống tại các CĐ Người Việt Hải Ngoại. Họ xâm nhập vào các chùa chiền VN tại Hải ngoại để hoạt động phá hoại, nhất là phá hoại lý tưởng quốc gia chống Cộng.

Những năm 50’s, các người làm nghệ thuật tại Miền Bắc hoàn toàn khuất phục CS. Họ chỉ có một con đường sáng tác đó là phục vụ xã hội chủ nghĩa, phục vụ Đảng nếu muốn hiện hữu dưới vòm trời xã hội chủ nghĩa. Các thi sĩ lãng mạn nổi tiếng thời tiền chiến như Xuân Diệu, Huy Cận… dưới sự ”dẫn đạo, chỉ huy” của Đảng, chỉ cho ra đời những ”bài vè” sặc mùi Bolchevik, tuyên truyền cho chế độ, ca tụng chế độ ”Cộng sản siêu việt, ca tụng Bác và Đảng”. Các nhạc sĩ nổi tiếng lãng mạn thời tiền chiến như Văn Cao, Nguyễn Văn Tý, Hoàng Giác… đã trở thành các nhạc sĩ cho loại nhạc tuyên truyền cho chế độ. Họ không có một sáng tác nào–hay không được phép sáng tác những bài nhạc tình cảm, lãng mạn như hồi chưa gia nhập hàng ngũ những người Cộng Sản. Nhà thơ Hữu Loan, vì làm bài thơ khóc vợ ”Mầu tím hoa sim” đã bị phê bình là lãng mạn, thiếu chiến đấu tính, thiếu Đảng tính.

Các tác phẩm sáng tác đi ra ngoài đường hướng của Đảng đều bị cấm lưu hành, tác giả bị trù ểm, tù đày, cấm sáng tác, mất hộ khẩu. Trong ngần ấy năm, dưới ”vòm trời xã hội chủ nghĩa”, các văn nghệ sĩ ở Miền Bắc vỹ tuyến 17 không cho ra đời được một tác phẩm nghệ thuật nào. CS cai trị bằng chế độ hộ khẩu nghĩa là kiểm soát mọi người bằng cách kiểm soát ”cái bao tử của người dân” nghĩa là kiểm soát cái khả năng sinh tồn (instinct de survie ) của con người. Đảng không bao giờ cho dân chúng ăn đủ no bằng chế độ hộ khẩu. Không có hộ khẩu đồng nghĩa với ”đói” vì không hộ khẩu sẽ không có gì để ăn. Người dân ở chế độ CS sợ nhất là bị ”cắt hộ khẩu”.

Báo chí, sách vở, các phương tiện truyền thanh, truyền hình là những cái loa của chế độ. Trong chế độ CS, không có báo tư nhân. Tất cả báo chí là của chế độ. Nghệ thuật không được vị nghệ thuật, nghệ thuật cũng không được vị nhân sinh mà chỉ để phục vụ Đảng và phục vụ chế độ.

Khi chiếm được Miền Nam, Cộng Sản đã cho hơn 1 triệu người vào các nhà tù. Tất cả các văn nghệ sĩ đều bị bắt, giam giữ. CS coi họ là những phần tử nguy hiểm cho chế độ nên cần phải vô hiệu hóa hay loại trừ. Không ai được phép sáng tác ở ngoài khuôn khổ được Đảng và Nhà Nước cho phép. Có người bị tù rất lâu như nhà thơ lãng mạn Cung Trầm Tưởng, thi sỹ Thanh Tâm Tuyền Dư Văn Tâm, Ca sĩ Duy Trác….Nhiều người đã bỏ mình trong trại tù như Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương (chỉ được thả ra lúc đang hấp hối), các nhà văn, nhà báo như Hiếu Chân, Nguyễn Mạnh Côn, Dương Hùng Cường, nhạc sĩ nổi tiếng Minh Kỳ ….. Các bài nhạc lãng mạn của một thuở nhạc tình của Miền Nam bị CS gọi là ”nhạc vàng” đều bị cấm đoán.

Kết luận

CS Việt Nam đã phá hủy nền văn hóa cổ truyền của dân tộc để thay bằng văn hóa Mácxit-Lê nin lít, văn hóa của vô gia đình, vô Tổ Quốc. Người dân sống dưới chế độ Cộng Sản, hay được sinh ra và lớn lên trong một môi trường Cộng Sản , đã hoàn toàn thay đổi để trở thành những tên ăn cắp, nói dối, lừa đảo, tàn bạo và vô cảm. Những người lãnh đạo Đảng CSVN vẫn kềm kẹp dân tộc trong một thể chế đã lỗi thời, bị thế giới từ bỏ. Dân Việt vẫn ỳ ạch lội dòng nước ngược của tiến bộ văn minh trong khi các nước khác ở trong vùng trở nên những cường quốc về mọi phương diện nhứt là phương diện kinh tế. Việt Nam bây giờ rất nổi tiếng về tham nhũng, nổi tiếng vì các tệ đoan xã hội. Phải chăng đó là hậu quả của nền Văn hóa Xã Hội Chủ Nghĩa ”siêu việt, đỉnh cao của trí tuệ loài người”. Người dân các nước trong vùng nhìn người Việt với con mắt khinh khi. Trước năm 1975, dù phải đối phó với một cuộc chiến tàn khốc do Cộng Sản miền Bắc gay ra, Việt Nam Cộng Hòa vẫn có những tiến bộ về mọi phương diện không thua gì các nước khác ở Đông Nam Á. Viễn tượng một cuộc đổi đời ở Việt Nam vẫn còn tối tăm, xa vời ngày nào những người Cộng Sản còn ngự trị trên quê hương.

Ngày 9 tháng 8 năm 2017, trong Đại Hội Báo Chí số 10 ở Hà Nội, người đứng đầu Đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng , đã tuyên bố: ”báo chí là vũ khí sắc bén, là công cụ của Đảng trên mặt trận tư tưởn . Mỗi người làm báo là một chiến sĩ cách mạng. Đảng lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện đối với báo chí.”

Phải vài thế hệ sau khi người Cộng Sản biến mất trên quê hương, quê hương được hoàn toàn tự do, văn hóa Việt mới có thể thay đổi tận gốc để thăng hoa. Dân tộc chỉ tiến bộ, đất nước chỉ tiến bộ trong một quê hương không bóng dáng người Cộng Sản.

Nguyễn Lương Tuyền (Montréal, Canada)

https://www.tvvn.org

Trân Văn – Môi trường và sinh thái, chỉ sáu ngày là thấy… bình minh?

Saturday, November 14th, 2020
(more…)