Archive for April, 2021


Hiểm họa thế giới: Trung Cộng sẽ thiết lập gần 100 ‘phòng thí nghiệm Vũ Hán’

Friday, April 23rd, 2021
Hiểm họa thế giới: Trung Quốc sẽ nhân bản gần 100 'phòng thí nghiệm Vũ Hán'

Lối vào chính của Viện virus Vũ Hán, Trung Quốc vào ngày 12/12/2016. (Wikimedia Commons / Ureem2805 / CC BY-SA 4.0)

Nguyên Hương • 11:18, 22/04/21•

 The BL ngày 22/4 đưa tin, Phó Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), ông Tương Lý Bân đã đưa cộng đồng quốc tế vào tình trạng báo động sau khi thông báo rằng, ĐCSTQ có kế hoạch xây dựng ba phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp 4 trên khắp đất nước và 88 phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp 3.

(more…)

Tỷ lệ người Đại Hàn chống Bắc Kinh tăng kỷ lục

Friday, April 23rd, 2021

Hàn Dương | DKN 10 giờ tới

Ảnh: Youtube/DKN.TV.

Tình cảm chống chính quyền Trung Quốc (ĐCSTQ) trong toàn xã hội Hàn Quốc đang lớn lên từng ngày khi người dân xứ sở kim chi phản đối việc ĐCSTQ sử dụng phim ảnh để viết lại lịch sử Hàn Quốc. Cuộc chiến ngôn từ trên các phương tiện truyền thông giữa hai quốc gia đã khiến hơn 620.000 người Hàn Quốc gửi thư lên chính phủ Hàn Quốc phản đối việc thành lập khu phố Tàu ở tỉnh Gangwon, theo Epochtimes.

(more…)

Bắc Kinh tiếp tục bị chỉ trích vì hành vi đàn áp tôn giáo, nhân quyền

Friday, April 23rd, 2021

Hải Lam | DKN 

Các dân tộc thiểu số ở khu tự trị Tân Cương, Trung Quốc đang bị tra tấn và ngược đãi hàng này dù ở bên ngoài hay bên trong các trại tập trung, họ hy vọng chính phủ Hoa Kỳ trừng phạt Trung Quốc và chấm dút cuộc áp bức nhân quyền và tự do tôn giáo ở khu vực này. (Ảnh: chụp màn hình từ video của Anadolu Agency).

Ngày 21/4, Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ đã công bố báo cáo thường niên năm 2021. Báo cáo chỉ ra Trung Quốc là một trong những quốc gia “vi phạm nghiêm trọng” quyền tự do tôn giáo trên thế giới.

Báo cáo năm nay không chỉ nêu bật sự đàn áp của Bắc Kinh nhắm vào chính người dân của họ, mà còn chỉ rõ chính quyền TC gây ảnh hưởng tiêu cực lên tự do tôn giáo và nhân quyền ở khắp nơi trên thế giới.

Báo cáo nêu rõ: “Các chiến thuật bao gồm sách nhiễu, đe dọa và giam giữ các nhà hoạt động nhân quyền, các nhóm dân tộc thiểu số và tôn giáo, cũng như các nhà phê bình và bất đồng chính kiến ​​khác”.

Nhiều nước đã nhượng bộ trước áp lực của Bắc Kinh, họ chọn cách im lặng trước cuộc đàn áp nhân quyền của chính quyền Trung Quốc tại Tân Cân, thậm chí hồi hương những người tị nạn Duy Ngô Nhĩ về Trung Quốc.

Ông Tony Perkins, Phó chủ tịch Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ, trong một cuộc họp báo trực tuyến vào ngày 21 tháng 4 nói rằng: Các vi phạm tự do tôn giáo của ĐCSTQ và các mối đe dọa ngày càng tăng của Bắc Kinh ở nước ngoài “đại diện cho những diễn biến đáng lo ngại nhất mà chúng tôi đã thấy vào năm 2020”.

Theo báo cáo, chính quyền Trung Quốc cũng đang buộc các công ty nước ngoài, bao gồm cả các công ty Hoa Kỳ, phớt lờ các hành vi vi phạm nhân quyền ở Trung Quốc, đồng thời đe dọa các giám đốc điều hành công ty “lựa chọn giữa việc tuân thủ luật pháp Hoa Kỳ và luật pháp Trung Quốc”.

Ông Perkins nói với The Epoch Times rằng việc các công ty Hoa Kỳ thu lợi từ các sản phẩm hoặc dịch vụ đến từ lao động cưỡng bức ở vùng Tân Cương của Trung Quốc là điều “đáng trách”.

Báo cáo cũng cho biết về hoạt động “phổ biến mô hình đàn áp” của Bắc Kinh ra nước ngoài.

Báo cáo viết: “Đáng báo động là Trung Quốc cũng đã và đang xuất khẩu cả mô hình quản trị internet, công nghệ và thiết bị giám sát tiên tiến sang các nước — như Belarus, Venezuela và Zimbabwe — nơi các chính phủ độc tài tích cực bắt bớ và đàn áp các nhà hoạt động nhân quyền và các đối thủ chính trị”.

Theo báo cáo, các chế độ đàn áp trên toàn thế giới đang tìm cách tái tạo “mô hình Trung Quốc” và nhập khẩu “chủ nghĩa chuyên chế kỹ thuật số”. Bắc Kinh dùng công nghệ của Huawei, ZTE cho việc đàn áp nhân quyền.

Phát biểu tại cuộc họp báo trực tuyến, Ủy viên Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ Nury Turkel nói rằng các quốc gia ở Trung Á như Kazakhstan và Tajikistan ngày càng “sử dụng các phương pháp của Trung Quốc để đàn áp chính trị và đàn áp tôn giáo”. Một số quốc gia khác, chẳng hạn như Triều Tiên, Venezuela và Iran, cũng đang sử dụng công nghệ giám sát của Trung Quốc để đàn áp các tôn giáo và dân tộc thiểu số.

Phó Chủ tịch Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ, bà Anurima Bhargava, cho biết ảnh hưởng của chính quyền Trung Quốc cũng đang lan rộng ở những nơi như Miến Điện, và các nước láng giềng khác.

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, một nhóm vận động hàng đầu, vào tháng 1/2021 đã tuyên bố rằng Trung Quốc “vẫn là mối đe dọa lớn nhất đối với nhân quyền toàn cầu” vào năm 2020.
ĐCSTQ Cưỡng bức Thu hoạch nội tạng.

Cuộc bức hại kéo dài hơn hai thập niên của ĐCSTQ đối với các học viên Pháp Luân Công cũng được nhắc tới trong báo cáo năm nay.

Ủy ban Tự do Tôn giáo Hoa Kỳ nêu rõ: “Theo báo cáo, hàng nghìn học viên Pháp Luân Công đã bị sách nhiễu và bắt giữ trong năm 2020 vì thực hành đức tin của họ, và một số có khả năng đã chết do bị ngược đãi và tra tấn khi bị giam giữ. “Một số báo cáo quốc tế đáng tin cậy cho thấy rằng cưỡng bức thu hoạch nội tạng, bao gồm cả của các học viên Pháp Luân Công, có thể vẫn đang diễn ra”.

Theo ông Turkel, hoạt động cưỡng bức mổ cướp nội tạng của ĐCSTQ “được báo cáo là mở rộng sang các tù nhân Duy Ngô Nhĩ”, trong đó có cả những người bị giam giữ trong trại tập trung. Ông nói trong cuộc họp báo:

“Họ thậm chí đang tiếp thị nội tạng của người Duy Ngô Nhĩ ở các quốc gia có đa số người Hồi giáo. Họ có một bệnh viện đặc biệt ở Bắc Kinh. Họ quảng bá bệnh viện đó thông qua các tin nhắn video, nói rằng các cơ quan nội tạng của người Hồi giáo có sẵn”.

Dựa trên các báo cáo, ông nói thêm, thời gian chờ đợi cho một số ca cấy ghép nội tạng ở Trung Quốc đã rút ngắn đáng kể, chỉ còn 48 giờ.

Chính sách của Mỹ về tự do tôn giáo

Năm ngoái, chính quyền Trump đã ưu tiên tự do tôn giáo trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Vào tháng 2 năm 2020, Hoa Kỳ đã thành lập Liên minh Tự do Tôn giáo Quốc tế lần đầu tiên, hiện có 32 quốc gia thành viên. Và vào tháng 6 năm 2020, Tổng thống Donald Trump đã ký một sắc lệnh hành pháp về thúc đẩy tự do tôn giáo quốc tế và tích hợp vấn đề này vào chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và các chương trình hỗ trợ nước ngoài.

Vào tháng 1, chính quyền Trump tuyên bố việc ĐCSTQ đàn áp các nhóm thiểu số Hồi giáo ở Tân Cương là “tội diệt chủng”.

Chính quyền Biden cũng tuyên bố chính quyền Trung Quốc diệt chủng người Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ và trừng phạt các quan chức Trung Quốc vì vi phạm nhân quyền vào tháng 3. Tuy nhiên, dường như chính quyền Biden đã không coi tự do tôn giáo quốc tế trở thành ưu tiên trong chính sách đối ngoại.

Ông Perkins trao đổi với The Epoch Times rằng, Ủy ban Tự do Tôn giáo Hoa Kỳ thực sự vẫn không biết chính xác chính quyền Biden sẽ hành động như thế nào về vấn đề tự do tôn giáo trong chính sách đối ngoại. Ông nói:

“Để duy trì tự do tôn giáo quốc tế như một động lực chính trong các ưu tiên chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, Ủy ban Tự do Tôn giáo Hoa Kỳ mạnh mẽ kêu gọi chính quyền Biden thực hiện các hành động riêng đối với từng quốc gia bị xác định là cần quan tâm đặc biệt, chịu trách nhiệm về các vi phạm tự do tôn giáo và thực hiện các báo cáo khác trong báo cáo”.

Theo DKN.TV

Một phong trào có thể khiến ĐCSTQ sụp đổ từ bên trong (Bình luận)

Friday, April 23rd, 2021

Ngọc Mai | DKN

Đoàn xe diễn hành ở thành phố New York khuyến khích mọi người rút khỏi ĐCSTQ (ảnh: Shutterstock).

Mục lục bài viết

Từ năm 2004 đến nay phong trào người dân Trung Quốc thoái đảng (hay Tuyên bố rút khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc) đã diễn ra trên khắp Trung Quốc cũng như quốc tế. Tác giả Sherry Qi và nhà báo Jennifer Zeng đã có bài bình luận đăng trên Epochtimes về phong trào này, đây có thể là một yếu tố khiến ĐCSTQ sụp đổ từ bên trong.

Ngày 20/4, số người tuyên bố thoái Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) và các tổ chức liên đối của nó đã vượt quá 376 triệu người. Con số này đã vượt qua số người rút khỏi Đảng Cộng sản (ĐCS) Liên Xô trước khi Liên Xô sụp đổ năm 1991. Một chuyên gia Trung Quốc cho rằng phong trào Thoái Đảng (Tuidang) bắt đầu từ năm 2004 này có thể kích hoạt sự tan rã của ĐCSTQ từ trong nội bộ trong vòng 5 năm tới.

Thoái xuất khỏi 3 tổ chức: Đảng, Đoàn Thanh niên và Đội Thiếu niên Tiền phong (sau đây gọi tắt là Đội Thiếu niên) của ĐCSTQ còn được người Trung Quốc gọi là “làm tam thoái”. Theo trang web Tuidang, nơi làm thủ tục và tổng kết số người đề nghị thoái xuất khỏi các tổ chức của ĐCSTQ, tính đến ngày 21/4, có hơn 376 triệu người đã làm tam thoái, chiếm khoảng 27% tổng dân số Trung Quốc.

Nói cách khác, cứ bốn người Trung Quốc thì có ít nhất một người đã công khai tuyên bố phản đối ĐCSTQ và thoái xuất khỏi các tổ chức liên quan đến nó.

Ba tổ chức ĐCSTQ và những lời thề độc

Trong hệ thống của chính quyền Trung Quốc, ngoài ĐCSTQ, còn có Đoàn Thanh niên và Đội Thiếu niên nằm dưới sự kiểm soát của nó.

Ở Trung Quốc, trẻ em bắt đầu học tiểu học năm 6 tuổi và học xong ở tuổi 12. ĐCSTQ yêu cầu hầu hết học sinh tiểu học bắt buộc phải tham gia Đội Thiếu niên, và gọi đây là một “điều vinh hạnh”.

Các trường tiểu học thường xuyên tổ chức các buổi tuyên thệ gia nhập, trong đó các em giơ nắm đấm trước lên lá cờ đỏ của Đội Thiếu niên và tuyên thệ:

“Em là đội viên của Đội Thiếu niên Tiền phong Trung Quốc. Dưới lá cờ của Đội Thiếu niên Tiền phong, em xin nguyện yêu ĐCSTQ, Tổ quốc, nhân dân; học tập tốt, rèn luyện sức khỏe tốt và sẵn sàng bất cứ lúc nào để cống hiến hết sức mình cho sự nghiệp cộng sản”.

Như vậy, trẻ em mới 6 tuổi bị bắt phải tuyên thệ sẵn sàng “cống hiến hết sức” cho chủ nghĩa cộng sản trước khi chúng có bất kỳ hiểu biết nào về điều này.

Khi vào trung học, các em được yêu cầu tham gia Đoàn Thanh niên của ĐCSTQ theo chế độ bán bắt buộc. Một lần nữa, học sinh được yêu cầu giơ nắm tay phải và cam kết:

“Tôi cam kết sẽ tự nguyện gia nhập Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc. Tôi kiên quyết ủng hộ sự lãnh đạo của ĐCSTQ, tuân thủ hiến pháp của Đoàn Thanh niên, thực hiện các nghị quyết của Đoàn, hoàn thành nghĩa vụ của một đoàn viên, nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật, siêng năng học tập, làm việc tích cực, đóng góp và chịu đựng khó khăn hơn người khác, để người khác lấy lợi ích trước bản thân, và phấn đấu hết mình cho sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản”.

Lời thề trở thành đảng viên của ĐCSTQ cũng tương tự như vậy, nhưng có một điểm khác là khi kết thúc người ta phải nói “xin hiến dâng tất cả” cho ĐCSTQ.

Lời cam kết ấy như sau:

“Tôi xin cam kết tự nguyện gia nhập ĐCSTQ, giữ vững chủ trương của Đảng, tuân theo hiến pháp của Đảng, hoàn thành nghĩa vụ của mình là một đảng viên, thực hiện các quyết định của Đảng, nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật của Đảng, giữ bí mật của Đảng, trung thành với Đảng, tích cực làm việc, suốt đời phấn đấu vì chủ nghĩa cộng sản, sẵn sàng hiến dâng tất cả vì Đảng và nhân dân bất cứ lúc nào, và không bao giờ phản bội Đảng”.

Người muốn gia nhập phải giơ nắm đấm lên thề sẽ “hiến dâng tất cả” cho ĐCSTQ (ảnh chụp màn hình news.cn).

Vì ĐCSTQ là đảng cầm quyền ở Trung Quốc nên các đảng viên có thể được hưởng nhiều lợi ích. Do đó, số lượng người có thể gia nhập ĐCSTQ rất ít. Hiện tại, ở Trung Quốc, số lượng đảng viên ĐCSTQ chưa đến 100 triệu, và tỷ lệ đảng viên chiếm chưa đến 7% dân số.

Tuy nhiên, hơn 95% người Trung Quốc đã tham gia Đội Thiếu niên, có nghĩa là trong số 1,4 tỷ dân Trung Quốc, số người tối đa có thể thoái đội là 1,3 tỷ.

Một phong trào được kích hoạt bởi cuốn sách “Cửu Bình”

Phong trào Thoái Đảng, còn được gọi là phong trào “tam thoái”, đã được khởi xướng sau khi cuốn sách Cửu Bình (9 bài bình luận về ĐCSTQ) được Epochtimes tiếng Trung xuất bản lần đầu vào năm 2004.

Cửu Bình phơi bày toàn diện lịch sử giết chóc đẫm máu của ĐCSTQ và phân tích sâu về bản chất lừa đảo, bạo lực, sùng bái và lưu manh của ĐCSTQ trong các lĩnh vực khác nhau như lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa và tín ngưỡng.

Mục 7 của cuốn sách có tiêu đề “Bình luận về lịch sử giết chóc của ĐCSTQ” tiết lộ “Dưới sự cai trị của ĐCSTQ, 60 đến 80 triệu người dân Trung Quốc vô tội đã bị giết, để lại những gia đình tan nát”. Con số này vượt quá tổng số người chết trong cả hai cuộc Thế chiến cộng lại.

Cuốn sách Cửu bình bản Tiếng Anh (ảnh Epochtimes).

Kể từ năm thành lập 1949, ĐCSTQ đã bức hại hơn một nửa số người dân Trung Quốc. [Với những tội ác của ĐCSTQ], vào tháng 1/2005, Epochtimes đã đăng tuyên bố kêu gọi người Trung Quốc rút khỏi ĐCSTQ và các tổ chức liên quan của nó.

Tháng 2/2005, hơn 10 tổ chức, bao gồm tổ chức truyền thông Epochtimes, Liên minh Từ giã ĐCSTQ, Liên minh Toàn cầu đưa Giang [Trạch Dân] ra công lý, và trang web Cửu Bình, đã hợp tác để thành lập Trung tâm Thoái ĐCSTQ Toàn cầu, một tổ chức phi lợi nhuận hỗ trợ những người muốn tuyên bố thoái ĐCSTQ và các tổ chức liên đới của nó.

Bởi vì ĐCSTQ là chế độ độc tài, người dân Trung Quốc bị kiểm soát chặt chẽ. Vì lý do an toàn, nhiều người đã chọn bí danh khi họ công bố rút khỏi các tổ chức của chính quyền Trung Quốc. Họ tin rằng Thần linh chứng kiến sự thành tâm và giúp họ rút khỏi lời thề độc khi tuyên bố xin gia nhập các tổ chức của ĐCSTQ.

Các thành viên cấp cao của ĐCSTQ cũng chọn thoái xuất

Một hiện tượng đáng chú ý trong giai đoạn đầu của phong trào Thoái đảng là một số lượng lớn người xin thoái xuất đến từ các cấp cao nhất của ĐCSTQ, bao gồm các quan chức từ Quốc vụ, các bộ, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, Trường Đảng Trung ương và các cán bộ tỉnh và thành phố.

Ví dụ, tháng 12/2004, một người từ Hội đồng Nhà nước Trung Quốc đã sử dụng tên Hua Tianming để xin “tam thoái”. Tuyên bố có nội dung: “Việc làm tay sai [cho ĐCSTQ] trái với ý muốn của tôi. Tôi muốn nói lời xin lỗi đến những người Trung Quốc. Tôi chỉ hy vọng rằng có thể chấm dứt ĐCSTQ sớm”. Ông cũng cho biết ông là thành viên của một văn phòng thuộc Hội đồng Nhà nước.

Ngoài ra, còn có các quan chức cấp cao của các cơ quan công an và tư pháp, bao gồm Bộ An ninh Quốc gia, Bộ Tư pháp và quân đội, bao gồm cả Hải quân và Quân khu Bắc Kinh.

Diễu hành xe hơi kêu gọi người Trung Quốc thoái ĐCSTQ ở Canada (ảnh Minh Huệ).

Một tuyên bố rút khỏi ĐCSTQ được xuất bản dưới tên Li Bochun vào tháng 12/2004 viết, “Tôi là một cán bộ kỹ thuật quốc phòng đã nghỉ hưu với 43 năm kinh nghiệm trong quân đội và hơn 30 năm đảng viên. Tôi đã từng tin bất cứ điều gì cấp trên của mình nói, nhưng chỉ sau khi nghỉ hưu, tôi mới thực sự hiểu được bản chất tà ác của ĐCSTQ”.

Một tuyên bố khác được công bố vào ngày 22/12/2004 dưới tên Li Linying nêu rõ, người này từng là một cán bộ quân đội và ở trong hàng ngũ của ĐCSTQ trong vòng hơn một thập kỷ. Sau khi hiểu rõ bản chất tà ác của ĐCSTQ, người này đã xin tuyên bố được rút khỏi ĐCSTQ và các tổ chức liên đới.

Một tuyên bố của một phóng viên Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) viết: “Đủ rồi. Hôm nay tôi chính thức cắt đứt mối quan hệ của mình với họ [ĐCSTQ]. Tôi là phóng viên của đài truyền hình trong nhiều năm, và tôi nhìn thấu được thói đạo đức giả của họ… Tôi đã bị Đảng lừa dối dưới sự tuyên truyền dối trá, và hôm nay tôi chính thức vứt bỏ mọi quan hệ với họ”.

Chuyên gia Trung Quốc: ĐCSTQ sẽ tan rã từ bên trong

Vào ngày 25/12/1991, Liên Xô sụp đổ. Tổng thống cuối cùng của Liên Xô, Mikhail Gorbachev, đã từ chức và trao lại quyền lực cho Tổng thống Nga Boris Yeltsin.

Cuối năm 1989, các quốc gia Cộng hòa từng tham gia Liên Xô tuyên bố độc lập, và Tổng thống Hoa Kỳ George HW Bush và Gorbachev cùng tuyên bố chấm dứt Chiến tranh Lạnh.

Sau thời gian dài chuyên quyền và tham nhũng, đã có một làn sóng xin rút khỏi ĐCS Liên Xô trước khi nó giải thể. Cuối cùng, hơn 20% đảng viên đã rời bỏ ĐCS Liên Xô.

Tương tự, cho đến nay, phong trào Thoái đảng ở Trung Quốc đã giúp khoảng 27% dân số Trung Quốc từ bỏ ĐCSTQ. Số người này nhiều hơn 20% đảng viên rời bỏ Liên Xô trước khi nó sụp đổ.

Vậy tại sao ĐCSTQ vẫn chưa sụp đổ? Chuyên gia về Trung Quốc Shi Shan nói với Epoch Times rằng có nhiều lý do, nhưng hai lý do chính là:

Thứ nhất, ĐCSTQ là nhóm cầm quyền mạnh nhất trong lịch sử nhân loại về khả năng kiểm soát người dân. Không có chế độ nào khác trong lịch sử hoặc trên thế giới giống như ĐCSTQ. Nó không chỉ kiểm soát người dân có thể sống ở đâu thông qua hệ thống đăng ký hộ khẩu, mà còn kiểm soát đức tin, suy nghĩ, công việc, cuộc sống gia đình của người ta và thậm chí kiểm soát cả sinh đẻ.

Ảnh qua NTD.

Với sự hỗ trợ của công nghệ cao, ĐCSTQ ngày nay sử dụng các phương pháp giám sát xâm phạm nhất để kiểm soát cuộc sống hàng ngày của mọi người. Chế độ cai trị của ĐCSTQ giống như một cái nồi áp suất cao, khiến những người bên trong không thể động đậy.

Thứ hai, ĐCSTQ sử dụng thị trường đại lục làm mồi nhử, liên kết kinh tế với chính trị để thu hút vốn đầu tư quốc tế vào Trung Quốc, mang lại chất dinh dưỡng và thay máu cho cơ thể ốm yếu của ĐCSTQ, cho phép nó tiếp tục tồn tại.

Tuy nhiên, ông Shan nói thêm rằng làn sóng của phong trào Thoái ĐCSTQ đã bắt đầu phá hủy nó từ bên trong. Mặc dù nhiều người không công khai danh tính thực sự của họ khi họ “tam thoái” và bề ngoài vẫn làm việc cho ĐCSTQ, nhưng về cơ bản, trong tâm họ đã cắt đứt liên hệ với ĐCSTQ. Một khi môi trường bên ngoài thay đổi, lực lượng đối lập bên trong này sẽ góp phần vào sự sụp đổ nhanh chóng của ĐCSTQ.

Ông Shan lưu ý rằng dựa trên tỷ lệ hiện tại, mỗi ngày có ít nhất 50.000 người tuyên bố rút khỏi ĐCSTQ và các tổ chức liên đới. Điều này tương đương với hơn 20 triệu người “làm tam thoái” trong một năm. Trong 5 năm, hơn 100 triệu người sẽ rút khỏi các tổ chức của ĐCSTQ. Mức hiện tại là hơn 376 triệu, vào năm 2026, tổng số người “tam thoái” có thể đạt 500 triệu, chiếm 35% trong tổng dân số Trung Quốc.

Điều này cũng có nghĩa là ít nhất một trong ba người sẽ chối bỏ ĐCSTQ.

Ông ấy nói, “Đến lúc đó, ĐCSTQ sẽ tan rã từ bên trong, giống như Đảng Cộng sản Liên Xô.”

Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả, không nhất định phản ánh quan điểm của DKN.

Trung Cộng đứng đầu bảng về đe dọa toàn cầu theo đánh giá của tình báo Hoa Kỳ

Friday, April 23rd, 2021
  • Thứ tư, 21/04/2021

Theo báo cáo đánh giá mối đe dọa thường niên do Văn phòng Giám đốc Tình báo Quốc gia (ODNI) biên soạn, chế độ cầm quyền Trung Quốc đặt ra mối thách thức hàng đầu đối với an ninh quốc gia của Hoa Kỳ, tiếp theo đó là Nga, Iran và Bắc Hàn.

Trung Cộng đứng đầu về mối đe dọa
Xe quân sự Trung Quốc mang hỏa tiễn đạn đạo DF-41 lăn bánh qua Đại lễ đường Nhân dân trong lễ duyệt binh kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Trung Quốc Cộng sản, tại Bắc Kinh vào ngày 01/10/2019. (Ảnh: AP Photo/Mark Schiefelbein)

“Bất chấp đại dịch, Bắc Kinh, Moscow, Tehran, và Bình Nhưỡng đã chứng tỏ khả năng và ý định thúc đẩy lợi ích của họ theo phương thức có hại cho Hoa Kỳ và các đồng minh,” theo báo cáo được công bố hôm 13/04. “Trung Quốc ngày càng trở thành một đối thủ gần ngang tầm, đang thách thức Hoa Kỳ trong nhiều lĩnh vực—đặc biệt là về kinh tế, quân sự và công nghệ—và đang thúc đẩy thay đổi các chuẩn mực toàn cầu.”

Báo cáo này lưu ý rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc (Trung Cộng) và Moscow đang “tiếp nhiên liệu” cho các cuộc khủng hoảng kinh tế và nhân đạo, sự bất ổn chính trị, và cạnh tranh địa chính trị, trong khi họ tham gia vào cái gọi là ngoại giao vaccine để mở rộng phạm vi ảnh hưởng tương ứng của mình.

Trung Cộng sẽ “tiếp tục các nỗ lực toàn chính phủ của mình để mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc, làm suy yếu ảnh hưởng đó của Hoa Kỳ, [và] chia rẽ Hoa Thịnh Đốn với các đồng minh và đối tác của mình, đồng thời nuôi dưỡng các chuẩn mực quốc tế mới có lợi cho hệ thống độc tài của Trung Quốc,” theo ODNI. “Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể sẽ tìm kiếm các cơ hội tài tình để giảm bớt căng thẳng với Hoa Thịnh Đốn khi những cơ hội như vậy phù hợp với lợi ích của họ,” nói rằng đó là vấn đề “sống còn” của chế độ này.

“Trung Quốc đang quảng bá thành công của mình trong việc ngăn chặn đại dịch COVID-19 như là bằng chứng về tính ưu việt của hệ thống cộng sản của họ,” báo cáo này lưu ý, đồng thời cho biết thêm rằng chế độ này sẽ tiếp tục kết hợp sức mạnh quân sự với “ảnh hưởng kinh tế, công nghệ, và ngoại giao để bảo toàn Trung Cộng … và làm tổn hại cho Hoa Thịnh Đốn.”

Đồng thời, Trung Cộng sẽ cố gắng “bóp nghẹt” những chỉ trích ở Hoa Kỳ đối với Trung Quốc và các vi phạm nhân quyền và sẽ “gây áp lực lên các nhân vật chính trị mà Bắc Kinh tin là đối kháng với lợi ích của họ,” các quan chức cho biết. “Bắc Kinh đã và đang tăng cường các nỗ lực để định hình môi trường chính trị ở Hoa Kỳ nhằm thúc đẩy các chính sách ưu tiên của mình.”

Báo cáo lưu ý thêm rằng các lực lượng hạt nhân và lực lượng truyền thống của Trung Quốc đang ngày càng trở nên có khả năng hơn trong việc đặt tính mạng của người Hoa Kỳ vào rủi ro, dự đoán rằng Trung Cộng sẽ cố gắng xây dựng thêm các căn cứ quân sự ở nước ngoài.

“Bắc Kinh sẽ thúc ép các nhà chức trách Đài Loan tiến tới thống nhất và sẽ lên án những gì họ coi là mối ràng buộc ngày càng gia tăng giữa Hoa Kỳ và Đài Loan. Chúng tôi cho rằng xích mích sẽ gia tăng khi Bắc Kinh tăng cường nỗ lực khắc họa Đài Bắc là bị cô lập trên trường quốc tế và phụ thuộc vào đại lục để có sự thịnh vượng về kinh tế, và khi Trung Quốc tiếp tục gia tăng hoạt động quân sự xung quanh hòn đảo này,” các quan chức cho biết.

“Sự hợp tác ngày càng tăng của Trung Quốc với Nga về các lĩnh vực cùng có lợi gồm có cả hợp tác quốc phòng và kinh tế.”

Trung Cộng đứng đầu về mối đe dọa
Bức ảnh không đề ngày được chụp vào tháng 04/2018 cho thấy hàng không mẫu hạm hoạt động duy nhất của Trung Cộng, Liêu Ninh (phía trước), ra khơi cùng các tàu khác trong một cuộc tập trận trên biển. (Ảnh: -/AFP/Getty Images)

Nga được liệt kê là mối đe dọa tiếp theo trong báo cáo này, nhưng ODNI lưu ý rằng Moscow không muốn có xung đột trực tiếp với Hoa Kỳ.

Thay vào đó, báo cáo nêu rõ, “Chúng tôi cho rằng Moscow sẽ tìm kiếm các cơ hội hợp tác thực tế với Hoa Thịnh Đốn theo các điều kiện của riêng họ.”

“Chúng tôi kỳ vọng Moscow sẽ tự đặt mình vào các cuộc khủng hoảng khi lợi ích của Nga bị đe dọa, họ có thể biến khoảng trống quyền lực thành cơ hội, hoặc hành động với chi phí dự kiến ​​thấp,” báo cáo nêu rõ, có trích dẫn sự tham gia của Moscow ở Libya, Syria, Venezuela, và Cuba.

Theo báo cáo thì Nga cũng sẽ sử dụng các cuộc tấn công mạng và các kế hoạch xâm nhập nhắm mục tiêu vào cơ sở hạ tầng của Hoa Kỳ, không giới hạn ở đường cáp ngầm dưới biển và các hệ thống công nghiệp.

“Mặc dù chi tiêu quốc phòng ít hoặc thậm chí giảm, nhưng Nga sẽ nhấn mạnh đến các loại vũ khí mới cho thấy mối đe dọa gia tăng đối với Hoa Kỳ và các bên trong khu vực trong khi tiếp tục các cuộc giao tranh quân sự ở nước ngoài, tiến hành các cuộc tập trận, và kết hợp các bài học có được từ sự can dự của họ ở Syria và Ukraine,” ODNI cho biết, và nói thêm rằng Moscow sẽ tăng cường vai trò của mình tại các quốc gia Kavkaz cũng như ở miền đông Ukraine và Belarus.

Các quan chức cho biết Bắc Hàn vẫn sẽ tiếp tục theo đuổi chương trình vũ khí nguyên tử.

Chế độ cộng sản biệt lập do Kim Jong Un lãnh đạo “nhằm đạt được các mục tiêu của ông ta là giành được uy tín, an ninh, và sự chấp nhận như một cường quốc hạt nhân thông qua các nỗ lực hiện đại hóa quân sự thông thường, phát triển vũ khí nguyên tử và hỏa tiễn, cam kết của nước ngoài, trốn tránh lệnh trừng phạt, và năng lực về không gian mạng,” báo cáo này cho biết.

Trong báo cáo này thì Iran được mô tả là một mối đe dọa trong khu vực hơn là một mối đe dọa toàn cầu.

“Mặc dù kinh tế tồi tệ và danh tiếng xấu trong khu vực của Iran gây trở ngại cho các mục tiêu của họ, nhưng Tehran sẽ thử một loạt các công cụ—ngoại giao, mở rộng chương trình nguyên tử, mua bán quân sự, và các hoạt động thôn tính, cùng các cuộc tấn công ủy nhiệm và cộng tác—để đạt được những mục tiêu của mình. Chúng tôi cho rằng Iran sẽ chấp nhận những rủi ro mà có thể làm leo thang những căng thẳng và đe dọa đến các lợi ích của Hoa Kỳ và đồng minh trong năm tới,” ODNI nêu rõ.

Bản báo cáo giải mật dài 27 trang này đã được công bố trước các phiên điều trần của ủy ban tình báo Hạ viện và Thượng viện hôm 14 và 15 tháng Tư.

Do Jack Phillips thực hiện
Hạo Văn biên dịch

Theo Epoch Tiếng Việt

Sức hút và lực đẩy: hai khía cạnh trái ngược trong quan hệ Việt-Trung

Friday, April 23rd, 2021

Nguyễn Thế Anh

22/4/2021

 [1] [1] Nguyên văn Anh ngữ “Attraction and Repulsion as the Two Contrasting Aspects of the Relations between China and Vietnam”, được trình bày trong Há»™i thảo China and Southeast Asia: Historical Interactions. An International Symposium, University of Hong Kong, 19-21/07/2001 và được xuất bản trong Tonan Ajia Kenkyu (Southeast Asian Studies) [Kyoto Univ.], vol.40, n°4 (03/2003), tr.444-458; East Asian Science, Technology, and Medicine (Tübingen), n°21 (2003), tr.94-113 

Nhìn sâu vào lịch sá»­, đối vá»›i người Việt, những trải nghiệm vá»›i người Trung Quốc dường nhÆ° nằm trong phức cảm yêu-ghét, hay đúng hÆ¡n là má»™t sá»± pha trá»™n của thu hút và thù hận, mà tiêu đề bài hát của nhạc sÄ© Serge Gainsbourg, “Je t’aime, moi non plus” [tôi yêu em, nhÆ°ng tôi không còn nhÆ° thế nữa] gần nhÆ° khắc hoạ đúng trường hợp này. Trạng thái này tác Ä‘á»™ng đến tất cả các vấn đề đối ngoại của Việt Nam, và trong hàng ngàn năm qua, quan hệ vá»›i Trung Quốc đặc trÆ°ng bởi má»™t sá»± phức tạp có thể nói là gai góc ở tầm chính thức, xuề xoà và thân thiện ở trong lề thói thông thường. Trên thá»±c tế, mối quan hệ hiện nay là sá»± hoán chuyển giữa má»™t bên là những xung Ä‘á»™t nảy lá»­a vá»›i má»™t bên là những tuyên ngôn chính thức về tình hữu nghị không thể lay chuyển. Chúng phần nào gợi nhá»› lại những kiểu giao kết Việt-Trung cổ xÆ°a, đặc trÆ°ng bởi những rối rắm trong chính sách ngoại giao của má»™t quốc gia nhỏ hÆ¡n luôn luôn phải dè chừng ý đồ bành trÆ°á»›ng của ông hàng xóm to lá»›n trong quan hệ khu vá»±c.

Nằm ngay sát cạnh Trung Quốc, dân tá»™c Việt Nam, có lẽ khác người Miến Điện và Thái Lan, luôn phải dè chừng ông bạn to lá»›n này trong các mối quan hệ khu vá»±c. Trong suốt nghìn năm kể từ khi Việt Nam giành được Ä‘á»™c lập cho đến giai Ä‘oạn thá»±c dân kiểu Pháp, ghi dấu bốn cuá»™c xâm lược lá»›n của Trung Quốc, cá»™ng thêm giai Ä‘oạn nhà Minh chiếm đóng khá dài, người Việt đã tích luỹ được bề dày kinh nghiệm trong việc giải quyết những mối quan hệ này. Trong khi đó, suốt quá trình đô há»™ của Trung Quốc, từ thế ká»· II trÆ°á»›c CN đến thế ká»· X sau CN, Việt Nam đã hấp thu từ Trung Quốc các lý thuyết chính trị, cÆ¡ cấu xã há»™i, thá»±c hành chế Ä‘á»™ quan liêu, tín ngưỡng tôn giáo và các thuá»™c tính văn hoá khác. Sá»± tiếp xúc lâu dài vá»›i ngôn ngữ và văn hoá Trung Hoa có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hoá xã há»™i Việt Nam, tiếp tục cho tá»›i cuối thế ká»· XIX. Thật vậy, các nhà cai trị của Việt Nam không ngừng lấy nguồn cảm hứng văn hoá từ Trung Quốc, ngay cả khi họ củng cố quốc gia Ä‘á»™c lập và thống nhất. Chữ Hán được lấy làm ngôn ngữ chính thức và là phÆ°Æ¡ng tiện giảng dạy, phÆ°Æ¡ng tiện để biểu đạt tri thức. Người  Việt được học các chủ đề văn chÆ°Æ¡ng Trung Quốc cÅ©ng nhÆ° giáo lý đạo đức được trích dẫn từ Nho giáo cổ Ä‘iển. Đóng góp của Trung Quốc cho Việt Nam bao gồm tất cả các khía cạnh của văn hoá và xã há»™i. Đặc biệt, ảnh hưởng của Trung Quốc được cảm nhận mạnh mẽ nhất ở cấp cao nhất của nhà nÆ°á»›c và chính trị: khái niệm luật pháp và quản trị của Trung Quốc đã trở thành yếu tố quan trọng của chính thể  Việt Nam trong thời kỳ Ä‘á»™c lập, bởi vì nó giúp nhà cầm quyền củng cố quyền lá»±c và chống lại các Ä‘e doạ từ bên ngoài, đặc biệt Ä‘e doạ từ Trung Quốc. Nền học thuật và văn học của Việt Nam không thể tránh khỏi việc thẩm thấu di sản cổ Ä‘iển của Trung Quốc; chữ Hán là ngôn ngữ của hành chính và giáo dục, nhÆ° tiếng la-tinh ở châu Âu tiền hiện đại. Khả năng thể hiện sá»± thông thạo về  ngôn ngữ và văn hoá Trung Quốc của các sứ giả Việt Nam ngay tại triều đình Hoa Hạ là cách quan trọng để chứng minh Việt Nam là má»™t đất nÆ°á»›c “văn minh” và không cần đến chính quyền Trung Quốc quan tâm chỉ bảo “khai hóa văn minh”.

Do tác Ä‘á»™ng mạnh mẽ của nền văn minh Trung Quốc đối vá»›i Việt Nam, năng lá»±c của Việt Nam được nâng cao để tiếp nhận má»™t cách có lá»±a chọn các yếu tố văn minh Hoa Hạ, hoặc chí ít  cÅ©ng quan trọng ở các thành tá»±u được hấp thu. Kể từ khi Việt Nam giành được quyền tá»± trị, ảnh hưởng của Trung Quốc đến xã há»™i Việt Nam vẫn tiếp tục mạnh mẽ nhÆ° khi trá»±c thuá»™c chính quyền tỉnh của Trung Quốc. Các vị vua Việt Nam có thể thúc đẩy đường lối làm việc theo kiểu Trung Quốc vá»›i nhiều thành công hÆ¡n các thái thú Trung Quốc, vì họ thường biết  dân của họ sẽ chịu Ä‘á»±ng được đến mức nào [Taylor, 1983: 298]. HÆ¡n nữa, vá»›i kinh nghiệm  thu được từ sá»± cai trị của Trung Quốc, người Việt Nam hiểu má»™t cách sâu sắc những  ý đồ của người Trung Quốc. Sống trong cái bóng của má»™t đế chế lá»›n, người Việt nhất thiết trở thành chuyên gia về nghệ thuật sống còn, và họ nắm bắt được lề lối của Trung Quốc nhÆ° má»™t cách thức để tồn tại. Sá»± cần thiết phải vô hiệu hóa nguy cÆ¡ đô há»™ từ phÆ°Æ¡ng  Bắc bằng cách chiếm hữu nguồn gốc của tính hợp pháp phÆ°Æ¡ng Bắc khiến họ ná»— lá»±c đầu tÆ° để đạt được và duy trì các kỹ năng công nghệ, hành chính và văn hoá. Do đó, trong giai Ä‘oạn Ä‘á»™c lập, tầng lá»›p thống trị ở Việt Nam đã học cách áp đặt các nguyên tắc của nền văn minh cổ truyền, nhờ đó vượt qua “chủ nghÄ©a man rợ” và loại bỏ mọi nguyên cá»› khiến Trung Quốc có thể thá»±c hiện sứ mệnh “khai hoá văn minh” trên đất Ä‘ai của họ [Woodside, 1971].

Người Việt Nam vẫn duy trì ngôn ngữ riêng, và cùng vá»›i đó là  những ký ức của họ về má»™t nền văn minh tiền Hán. Việc bảo tồn tiếng Việt hết sức đáng chú ý: có nghÄ©a là bất cứ Ä‘iều gì người Trung Quốc làm ở Việt Nam đều được Ä‘iều hoà bởi thá»±c tiá»…n văn hoá sao cho nó riêng biệt và tách rời khỏi ảnh hưởng tÆ° tưởng của Trung Quốc. Mọi thứ người Việt Nam vay mượn từ Trung Quốc đều được bẻ cong qua lăng kính ngôn ngữ và văn hóa Việt. Do đó, bất chấp di sản Khổng giáo thông thường, sẽ là sai khi nghÄ© rằng tâm thức thống trị đời sống trí thức ở Trung Quốc và Việt Nam luôn giống nhau. Đôi khi chúng khác nhau cÅ©ng nhÆ° Ä‘iều kiện địa lý khác nhau, và sá»± khác biệt đã giúp hạn chế quá trình Hán hoá Việt Nam.

Liệu có sự khác biệt đáng kể giữa các thiết chế Việt Nam và Trung Quốc, và liệu những khác biệt đó ít nhất thể hiện dù chỉ một phần trong quan điểm riêng mà các nhà tư tưởng Việt Nam tạo lập và theo đuổi? Câu hỏi lớn là làm thế nào người dân Việt Nam có thể hưởng lợi từ văn hoá Trung Quốc mà không trở thành người Trung Quốc? Trong hàng thế kỷ, rõ ràng Việt Nam chịu sức hút từ tư tưởng chính trị, thực tiễn xã hội, xu hướng văn học và công nghệ của Trung Quốc và tự điều chỉnh bằng cách nào đó với quyết tâm bảo vệ độc lập của Việt Nam. Việt Nam chưa bao giờ ngừng vay mượn văn hoá từ Trung Quốc; trái lại, các triều đại khác nhau của một nước Việt Nam độc lập, vào khoảng giữa năm 1010 và 1885, còn tăng mạnh hơn nữa. Trên thực tế, nhận thức được sự vượt trội về kinh tế và khoa học của Trung Quốc, nhà cầm quyền Việt Nam không muốn từ bỏ việc tiếp cận các sáng kiến ​​của Trung Quốc, và sử dụng những cây cầu văn hoá đã được xây dựng giữa hai nước để tham gia vào thế giới Hán văn.

Tầng lớp nho sĩ được sinh ra từ cơ cấu giáo dục chính thống đã định hình, họ là những người kiên định ủng hộ một nền văn học chính thống gắn với quan niệm đạo đức Khổng giáo của xã hội, thống trị nền văn học và sử học của Việt Nam. Với tinh thần nhân văn dồi dào và tình yêu tri thức sách vở, Khổng giáo đã giúp đem lại cho Việt Nam một giai tầng học giả có ý thức lịch sử, những người có niềm tin sâu sắc rằng những nguyên tắc tiên thiên của đạo đức con người cần phải được thấu hiểu qua đọc và viết sử ký.

Việc vay mượn văn hoá này thậm chí còn quá toàn diện để có thể truy nguyên toàn bá»™ tính toán chiến lược má»™t cách có ý thức. Nó đôi khi là sá»± thuần phục má»™t cách không cần thiết. Chẳng hạn, Hoàng đế nhà Nguyá»…n thế ká»· XIX tá»± nhận là “Thiên tá»­” ( 天子), ngụ ý bình đẳng vá»›i hoàng đế Trung Quốc. Họ đã đặt tên đất nÆ°á»›c của mình là Đại Nam (大 南) [Woodside, 1971: 9]. Lại nữa, sau năm 1802, họ đã xây dá»±ng Kinh đô má»›i tại Huế ở miền Trung Việt Nam, vốn đã được lên kế hoạch là má»™t bản sao của Kinh đô Yên Kinh của Trung Quốc. Việc bắt chÆ°á»›c còn thể hiện trong luật nÆ°á»›c Nam, má»™t bản sao rõ ràng của luật pháp của Trung Quốc. Sá»± bắt chÆ°á»›c Ä‘i cùng vá»›i tình trạng công khai khi Việt Nam được công nhận là “chÆ° hầu” của Trung Quốc trong hệ thống ngoại giao Trung Quốc truyền thống cÅ©ng nhÆ° việc triều cống. Và thẩm quyền của Trung Quốc đối vá»›i các tiêu chuẩn văn hoá là chuyện không phải bàn cãi khi triều đình Việt Nam luôn luôn lá»±a chọn sứ giả sang Trung Quốc là những học giả đồng thời là nhà thÆ¡ hoặc triết gia xuất sắc nhất Việt Nam, để chứng minh cho người Trung Quốc rằng người Việt Nam cÅ©ng có thể làm chủ được văn hoá Khổng giáo.

Các thể chế truyền thống của Việt Nam – chế Ä‘á»™ quân chủ, cÆ¡ chế quan liêu, hệ thống luật pháp, và ngay cả dòng dõi gia tá»™c – tất cả đều giống Trung Quốc. Tuy nhiên, tại sao má»™t nÆ°á»›c Việt Nam tiền hiện đại không chỉ Ä‘Æ¡n thuần là má»™t “Trung Quốc thu nhỏ”? Dường nhÆ° câu trả lời là chủ nghÄ©a nhân văn Nho giáo thá»±c dụng đã lan rá»™ng đến Việt Nam nhÆ° má»™t phần của nền cổ Ä‘iển Trung Quốc, biến tầng lá»›p thượng lÆ°u Việt Nam thành má»™t tầng lá»›p ý thức được việc phải có sứ mệnh Ä‘á»™c lập đối vá»›i các nhà cai trị Trung quốc [Woodside, 1988: 29]. Trên thá»±c tế, nghiên cứu lịch sá»­, vốn được các giá trị cổ Ä‘iển Trung Quốc khuyến khích, chắc chắn sẽ hÆ°á»›ng sá»± quan tâm của Việt Nam đến những sai lầm mà họ nghÄ© họ đã phải chịu Ä‘á»±ng trong tay Trung Quốc. Trí thức Việt Nam sống vá»›i những băn khoăn về sá»± tiếp nối của má»™t nền văn hoá giàu có hình nhÆ° đã mai má»™t hoặc bị tàn phá. Lê Quý Ðôn, má»™t nhà triết học và sá»­ gia lá»—i lạc của thế ká»· XVIII, đã Ä‘Æ°a ra má»™t bản kiểm kê về thÆ° tịch và lÆ°u trữ của Việt Nam, nhiều trong số đó đã bị phá hủy hoặc bị người  Trung Quốc xâm lược cÆ°á»›p về nÆ°á»›c họ. Đây là quá trình “tập hợp bất công” trên má»™t quy mô đáng kinh ngạc: giá»›i quan lại yêu chuá»™ng thÆ° tịch của Việt Nam có má»™t bá»™ nhá»› được bảo quản tỉ mỉ nhất về di sản văn hóa bị mất mát hoặc bị đánh cắp [Woodside, 1982].

Quá trình tÆ°Æ¡ng tác vá»›i Trung Quốc và việc nằm trong tầm ảnh hưởng của đế chế văn hoá Trung Hoa, trá»› trêu thay lại có tầm quan trọng vá»›i việc hình thành bản sắc dân tá»™c Việt Nam. Những người Việt Nam có học thức thông thạo các tài liệu văn học Trung Quốc thậm chí còn cung cấp vÅ© khí ngoại giao chống lại Trung Quốc [Wolters, 1999: 63]. Triều đình Việt Nam đã nhiều dịp nhắc nhở triều đình phÆ°Æ¡ng Bắc về giáo lý của người Trung Quốc rằng má»™t vị minh quân phải thể hiện thái Ä‘á»™ khoan hoà vá»›i viá»…n khách. Các thông Ä‘iệp của người Việt gá»­i Trung Quốc thường bóng gió những lý lẽ để can ngăn các hoàng đế Trung Hoa xâm phạm chủ quyền của Việt Nam. Mặt khác, má»™t trong những nhiệm vụ cÆ¡ bản được giao cho ngành chép sá»­ truyền thống Việt Nam là phải xác định được bản sắc hoàn toàn khác biệt của quốc gia này, xét về biên giá»›i thá»±c cÅ©ng nhÆ° huyền thoại, nhằm vÄ©nh viá»…n gạt bỏ ý đồ của Trung Quốc muốn hồi sinh má»™t giả thuyết hợp thức hoá nào đó để có cá»› can thiệp. Được Vua Trần Thánh Tông ban Dụ  biên soạn lịch sá»­ Ðại Việt (được hoàn thành năm 1272), nhà sá»­ học Lê Văn HÆ°u đã lắp ráp má»™t số mảnh triết lý và lịch sá»­ Trung Quốc, trong đó má»™t vài mảnh được ông tách ra khỏi bối cảnh nguyên thuá»·, để thể hiện tính cổ Ä‘iển của thiết chế phong kiến Việt Nam mà Trần Thái Tông và người kế vị của ông đã đấu tranh bảo vệ và chống lại Kubilai Khan [Hốt Tất Liệt].

            Các mảnh ghép Trung Quốc được sá»­ dụng để bảo vệ vị thế Ä‘á»™c lập của các nguyên thủ Việt Nam khi đối mặt vá»›i các mÆ°u đồ của phong kiến Trung Quốc. Chúng được thiết kế riêng cho phù hợp vá»›i lịch sá»­ Việt Nam và cho thấy rằng mối quan hệ chÆ° hầu giữa Việt Nam vá»›i Trung Quốc chỉ là tưởng tượng [Wolters, 1999: 86]. Lê Văn HÆ°u bắt đầu khảo cứu các sá»± kiện lịch sá»­ kể từ năm 207 trÆ°á»›c CN và thành tá»±u của  người sáng lập quốc gia Nam Việt [Nanyue], Triệu Ðà [Zhao Tuo], theo sá»­ gia, đó là người đầu tiên lập má»™t đế chế ở phÆ°Æ¡ng Nam có thể tồn tại song song bên cạnh đế chế phÆ°Æ¡ngBắc: «Triệu VÅ© Đế [Zhao Wudi], khai thác đất Việt ta mà tá»± xÆ°ng Đế trong nÆ°á»›c, ngang hàng vá»›i nhà Hán, .. mở đầu cÆ¡ nghiệp đế vÆ°Æ¡ng cho nÆ°á»›c Việt ta, công ấy có thể nói là to lá»›n lắm vậy. Người làm vua nÆ°á»›c Việt sau này nếu biết bắt chÆ°á»›c VÅ© Đế mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp phải đạo vá»›i láng giềng, lấy lòng khoan dung để duy trì ngôi báu thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài, người phÆ°Æ¡ng Bắc không thể lại ngấp nghé được” [Đại Việt sá»­ ký, 1983: 134].

Bằng cách này, Lê Văn Hưu nhấn mạnh cơ sở pháp lý và lịch sử của nền độc lập Việt Nam. Triệu Đà, vị vua phương Nam phản kháng xâm lược phương Bắc, trở thành quốc vương hợp pháp bởi các biểu tượng văn hoá địa phương trước khi chính quyền tỉnh của Trung Quốc được biết đến. Vì vậy, Triệu Đà đại diện cho sự kết thúc của vương triều bản địa tiền Hán; ông cũng đại diện cho sự khởi đầu của thời kỳ khi khái niệm về vương quyền gắn chặt với khả năng chống lại sự hiếu chiến của Trung Quốc. Nhìn ra thực tế thì Triệu Đà không phải là người Việt Nam lúc sinh thời, song các nhà sử học Việt Nam đã nhìn thấy trong con người này tinh thần chính trị bất khuất của chính họ và dựa vào đó mà coi ông là người Việt [Taylor, 1983: 293]. Lê Văn Hưu lựa chọn Nam Việt của Triệu Ðà làm điểm bắt đầu cho lịch sử Việt Nam và điều đó trực tiếp nhấn mạnh tinh thần “bình đẳng của Việt Nam” với Trung Quốc.

TÆ°Æ¡ng tá»± nhÆ° vậy, má»™t tác phẩm khác được sáng tác vào cuối thời Trần, Việt sá»­ lược, đã không xếp Việt Nam vào khu vá»±c kiểm soát bởi các vị hoàng đế khôn ngoan của Trung Quốc, cÅ©ng là nằm ngoài ảnh hưởng của văn minh Hán trong thời hoàng kim của Trung Quốc. Ý đồ của hành Ä‘á»™ng này  nhằm chứng minh tổ tiên của đất nÆ°á»›c Việt Nam, những người sáng tạo ra vÆ°Æ¡ng quốc Văn Lang hÆ°ng thịnh vá»›i ‘các phong tục thuần khiết, giản dị’ tồn tại từ rất lâu trÆ°á»›c thời kỳ có thể chịu ảnh hưởng của Trung Quốc, có tÆ° cách bình đẳng vá»›i các vị vua sáng lập ra Trung Quốc. Trong khi Lạc Long Quân, vua đầu tiên của Văn Lang là người Việt Nam, tÆ°Æ¡ng Ä‘Æ°Æ¡ng vá»›i Hoàng đế Trung Quốc, những đổi má»›i văn hoá của ông có thể sánh vá»›i những cải tiến văn hoá phÆ°Æ¡ng Bắc. Nói rằng văn minh cổ đại của Văn Lang có sá»± tÆ°Æ¡ng đồng vá»›i thời cổ đại xa xôi của Trung Quốc trên thá»±c tế có nghÄ©a là khẳng định sá»± bình đẳng giữa Bắc và Nam, thông qua tiêu chí chính trị và văn hoá mà người Trung Quốc Ä‘Æ°a ra để tuyên bố Æ°u thế của họ hÆ¡n tất cả tá»™c người khác.

Việc khắc hoạ Việt Nam như một quốc gia văn hoá [văn hiến chi bang 文獻之邦] tương tự Trung Quốc sẽ được Nguyễn Trãi lặp lại vào cuối thế kỷ XV, khi ông viết Bình Ngô đại cáo, tuyên bố thất bại của nhà Minh khiến quân đội Minh triều bị đánh đuổi ra khỏi Việt Nam:

Đất đai bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần xây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương

Trong tuyên ngôn của mình, Nguyá»…n Trãi đã sá»­ dụng các yếu tố truyền thống Trung Quốc để chỉ ra phÆ°Æ¡ng thức đúng đắn nhằm ngăn chặn âm mÆ°u của nhà Minh – Trung Quốc. Đối vá»›i ông, các thể chế Hán (Sinic) không phải là “Trung Quốc” và Việt Nam không phải là má»™t thá»±c thể bên ngoài chỉ biết bắt chÆ°á»›c họ [O’Harrow, 1979: 174]. Tuyên ngôn của Nguyá»…n Trãi là má»™t ná»— lá»±c chứng minh nền Ä‘á»™c lập và bình đẳng của Việt Nam. Giống nhÆ° các nho sÄ© Việt Nam khác, ông tin rằng văn học cổ đại Trung Quốc có đặc trÆ°ng phổ quát chứ không chỉ Ä‘Æ¡n giản là các mô hình kinh nghiệm của Trung Quốc. Trong má»™t số trường hợp, các học giả này đánh đồng các phÆ°Æ¡ng châm của Khổng giáo vá»›i má»™t kiểu công nghệ, má»™t công nghệ tiên tiến nhất để kiểm soát và quản lý xã há»™i. Do đó, họ không ngần ngại khÆ¡i gợi các Ä‘oản văn Hán ngữ nhÆ° những tinh hoa về phép tu từ để minh họa vị trí cao quý của họ trên thế giá»›i và coi bất cứ Ä‘iều gì mà họ nói ra đều là chuẩn má»±c. Nói cách khác, các mô hình văn hoá Trung Quốc vẫn đồng nghÄ©a vá»›i “nền văn minh”, và bởi vậy giá»›i nho sÄ© Việt Nam không ngừng xác lập văn hoá Việt Nam tách biệt khỏi các nÆ°á»›c láng giềng Đông Nam Á, kiên trì nâng cao nhận thức phổ biến về các chuẩn má»±c Nho giáo nhằm làm sâu sắc thêm mối liên kết giữa dân tá»™c Việt Nam và Khổng giáo. Do sá»± liên kết văn hóa này, trong quá khứ, các học giả Việt Nam luôn có xu hÆ°á»›ng nhấn mạnh vai trò quan trọng của đất nÆ°á»›c họ nhÆ° má»™t trung gian chuyển giao công nghệ giữa Trung Quốc và Đông Nam Á. Lê Quý Ðôn đã có lần tuyên bố má»™t cách dứt khoát rằng sản vật của Việt Nam hÆ¡n hẳn  Trung Quốc ở tất cả mọi thứ từ hoa trái đến rau quả. Trên tất cả, ông chỉ ra rằng các loại gạo chín sá»›m Ä‘a dạng đều có nguồn gốc từ Champa, sau đó đến Việt Nam trÆ°á»›c hết, rồi má»›i tá»›i Trung Quốc. NhÆ° Alexander Woodside đã gợi ý, sá»± lan rá»™ng toàn thế giá»›i của gạo Chăm vào thế ká»· XI trở thành chủ đề chính cho Ä‘á»™c giả Việt Nam vào bảy thế ká»· sau đó, “Lê Quý Đôn đã mời họ hình dung lại toàn bá»™ lÄ©nh vá»±c kinh tế của biển Nam Trung Quốc trong cái nhìn tách khỏi Trung Quốc và ủng há»™ Đông DÆ°Æ¡ng “[Woodside, 1997: 256257]. Rõ ràng mục tiêu của Lê Quý Đôn không chỉ làm giảm tầm quan trọng của Trung Quốc, mà còn lấy dữ liệu từ sá»± phát triển nông nghiệp khu vá»±c để mang lại chiều sâu ý thức về bản sắc Việt Nam.

Đối vá»›i tầng lá»›p thượng lÆ°u của Việt Nam những năm 1700 và đầu những năm 1800, đế quốc Trung Hoa đã không thể  hoàn thiện cá»™ng đồng lý tưởng của các triết gia Khổng học. Trong mắt người Việt Nam, Trung Quốc thá»±c sá»± là má»™t đế quốc của các đô thị thÆ°Æ¡ng mại khổng lồ nÆ¡i các nhà cai trị giả dối nói bằng nhiều thứ tiếng. Ngược lại, ở Việt Nam, thÆ°Æ¡ng mại nhỏ hÆ¡n, gần gÅ©i hÆ¡n vá»›i quy mô của các thành phố – tiểu bang thời đại Khổng Tá»­, và có môi trường tiềm năng thích hợp hÆ¡n cho các giá trị Nho giáo [Woodside, 1997: 248]. Do đó, niềm tin của bậc đế vÆ°Æ¡ng Việt Nam là họ không cần phải là người ‘Trung Quốc’ để tạo ra má»™t quốc gia có các phẩm chất nhÆ° các quốc gia mà Khổng Tá»­ ngưỡng má»™. Điều này giải thích lý do tại sao biên niên của nhà Nguyá»…n mô tả bậc đế vÆ°Æ¡ng Việt Nam trong thế ká»· XIX nhÆ° là người thá»±c sá»± bảo tồn Khổng học chính thống, vá»›i văn hoá vượt trá»™i so vá»›i nhà Thanh là giống “man di” vì có nguồn gốc từ Mãn Châu.

Những tuyên bố bá quyền của Trung Quốc và cuá»™c kháng chiến dai dẳng của người Việt Nam chống lại tuyên bố này, minh chứng cho sá»± tin tưởng ngoan cường của người Việt rằng Việt Nam và Trung Quốc, trái ngược vá»›i tín Ä‘iều Trung Quốc, có chủ quyền ngang nhau. Sá»± xác tín này rõ ràng được xác lập nhÆ° là phủ nhận các tham vọng của Trung Quốc muốn chiếm lÄ©nh vai trò là trung tâm duy nhất trên thế giá»›i [Wolters, 1979]. Trong lời mở đầu cho các biên niên sá»­ Việt Nam, nhà sá»­ học thế ká»· XV Ngô SÄ© Liên lập luận rằng người Việt có nguồn gốc từ Thần Nông, má»™t trong những bậc minh quân huyền thoại của Trung Quốc, nhÆ°ng thuá»™c nhánh khác vá»›i Trung Quốc [Đại Việt sá»­ ký, 1983: 99]. Điều này góp phần làm nên hình ảnh lý tưởng của mối quan hệ giữa người Việt Nam vá»›i Trung Quốc: có cùng nguồn gốc, nhÆ°ng vá»›i má»™t lịch sá»­ Ä‘á»™c lập, ngầm phủ nhận bá quyền chính trị của Trung Quốc. NhÆ° má»™t hệ quả, các nguyên thủ Việt Nam hình dung về thế giá»›i từ quan Ä‘iểm ‘Bắc’ và ‘Nam’, khẳng định rằng kể từ khi được Ä‘á»™c lập khỏi ách đô há»™ Trung Quốc, họ đã liên tục duy trì má»™t truyền thống đế quốc phía Nam vốn bắt nguồn từ thời cổ đại, và do đó bác bỏ vị trí trung tâm của Trung Quốc trong vÅ© trụ [Nguyá»…n Thế Anh, 1990: iii]. Do đó, tá»›i lượt mình, họ ná»— lá»±c buá»™c các nÆ°á»›c láng giềng Đông Nam Á nhìn nhận phiên bản của họ về má»™t thế giá»›i nÆ¡i họ cÅ©ng phải chiếm vị trí vượt trá»™i [Woodside, 1971: 234-246].

Trong khi người Việt duy trì được Ä‘á»™c lập qua nhiều thế ká»· mặc dù các hoàng đế Trung Quốc liên tục đòi áp đặt quyền lá»±c của họ đối vá»›i Việt Nam, phần lá»›n là do Trung Quốc cho rằng bất cứ Ä‘iều gì mà họ thèm muốn ở Việt Nam, những gì họ nhận được không xứng vá»›i thứ mà họ yêu cầu. Do đó, mối quan hệ phiên thuá»™c vẫn được duy trì, từ quan Ä‘iểm của Trung Quốc có nghÄ©a là mối quan hệ của bá chủ và chÆ° hầu, từ quan Ä‘iểm của người Việt Nam là mối quan hệ của hai nÆ°á»›c Ä‘á»™c lập, có “chủ quyền” (dù không bình đẳng về mặt quyền lá»±c). Tuân thủ nghiêm túc các quy tắc và diá»…n giải về mối quan hệ này theo nhÆ° quan niệm của Việt Nam góp phần vào chung sống hòa bình. Tuy nhiên, mối quan hệ phiên thuá»™c không phải là quan hệ giữa hai quốc gia bình đẳng, mà là do sá»± sắp xếp phức tạp, theo đó, mặc dù không được thể hiện cụ thể bởi bất kỳ Ä‘iều Æ°á»›c nào, chúng vẫn dá»±a trên các quan hệ cá nhân giữa hai bậc đế vÆ°Æ¡ng của hai nÆ°á»›c. Điều đó ngầm hiểu là Trung Quốc thoả thuận hiện diện vá»›i tÆ° cách cường quốc đồng ý há»— trợ cho chÆ° hầu của mình trong trường hợp cần thiết, và bên chÆ° hầu ngầm chấp nhận các nghÄ©a vụ theo nghi lá»… nhất định, nhất là các nghÄ©a vụ cống ná»™p định kỳ cho triều đình Trung Quốc. Vị thế phiên thuá»™c  không áp đặt cho quốc gia Việt Nam, mà giành cho hoàng đế, người về nguyên tắc có tính hợp pháp vì được Hoàng đế Trung Quốc phê chuẩn. Qua nghi lá»… tấn phong này, Thiên tá»­ của Trung Quốc long trọng tuyên bố người mà ông ban cho danh hiệu “An Nam Quốc vÆ°Æ¡ng” là xứng đáng vì lòng trung thành và tận tuỵ. NhÆ° vậy, việc phong tặng tạo ra sá»± phụ thuá»™c, nhÆ°ng đồng thời góp phần thiết lập tính hợp thức cho nền quân chủ Việt Nam vá»›i sá»± giúp đỡ của nÆ°á»›c láng giềng to lá»›n.

Bắt nguồn từ các cuá»™c chinh phạt từ thời Hán, quyền bá chủ của Trung Quốc, đến tận thế ká»· XIX được khẳng định liên quan đến lãnh thổ Việt Nam hÆ¡n là đối vá»›i dân tá»™c Việt Nam. Nó không chỉ gắn liền vá»›i quan Ä‘iểm truyền thống về trọng luân lý và đạo đức của Trung Quốc nhÆ° là bá chủ thiên hạ (天下), mà còn phân định khá rõ  ở miền bắc Việt Nam, má»™t phần của lãnh thổ 領土 hoặc “đất tiếp giáp” vá»›i Hán và Đường[i][2].

Sau khi Việt Nam giành Ä‘á»™c lập, sá»± can thiệp của Trung Quốc tập trung chủ yếu vào việc khôi phục các vị trí hoàng thân Việt Nam bị phế truất. Vấn đề tính hợp pháp vẫn luôn là mối quan tâm của Trung Quốc cho đến thời kỳ hiện đại. Hành Ä‘á»™ng của Minh Thành Tổ  năm 1407 chủ đích là trị an chÆ° hầu gặp sá»± biến, khi vua thuá»™c quốc kêu gọi giúp đỡ, và sau đó trả lại trật tá»±. Trong triều đại nhà Thanh, Việt Nam là má»™t trong ba hoặc bốn chÆ° hầu trung thành nhất trong việc cống nạp cho triều đình Bắc Kinh. Và trong nhiều trường hợp, quân Ä‘á»™i của hoàng đế [Trung Quốc] được cá»­ đến lãnh thổ Việt Nam, theo yêu cầu của hoàng đế Việt Nam, để đàn áp nổi loạn địa phÆ°Æ¡ng. Cho đến thế ká»· XIX, những sá»± kiện đó, cùng vá»›i mối quan hệ văn hoá và chủng tá»™c lâu đời, đã được người Trung Quốc xem là bằng chứng đầy đủ về quyền bá chủ không thể xoá bỏ của Trung Quốc đối vá»›i Việt Nam.

Tuy nhiên, hệ thống phiên thuá»™c thỏa mãn các lợi ích cÆ¡ bản của hai bên. Đối vá»›i Trung Quốc, đó là má»™t phÆ°Æ¡ng tiện hành Ä‘á»™ng thông minh và tiết kiệm để giữ lại trong quỹ đạo ảnh hưởng của nó má»™t quốc gia lân cận mà vì lý do thá»±c tiá»…n họ không thể kiểm soát trá»±c tiếp. Điều này cho phép Trung Quốc có trong tầm tay má»™t chÆ° hầu thuần phục có thể giúp họ giữ yên xã há»™i phÆ°Æ¡ng Nam. Về phần mình, các vị hoàng đế Việt Nam ý thức rõ ràng về sá»± cần thiết phải chấp nhận tÆ° cách phiên thuá»™c của họ, để ngăn chặn sá»± can thiệp trá»±c tiếp của Trung Quốc vào công việc ná»™i bá»™. HÆ¡n nữa, vì lợi ích, triều đình  Việt Nam thà mất má»™t phần chủ quyền để đổi lấy sá»± đảm bảo rằng nếu có biến trong nÆ°á»›c, vua Việt Nam sẽ được Trung Quốc trợ giúp, Trung Quốc sẽ chịu trách nhiệm về mặt đạo đức phải bảo vệ triều đại hợp pháp mà họ đã công nhận-, và trong thời bình,  sẽ không có nguy cÆ¡ bị Trung Quốc can thiệp, chinh phục và trá»±c tiếp cai trị đất nÆ°á»›c. Bên cạnh đó, giá»›i cai trị Æ°u tú của Việt Nam dá»… dàng chấp thuận chế Ä‘á»™ chÆ° hầu này chừng nào nó cho phép họ hưởng lợi từ lợi ích vật chất và văn hoá: các sứ thần được cá»­ đến triều đình Trung Quốc có dịp được mang về nÆ°á»›c mình những cuốn sách văn học và khoa học, chÆ°a kể đến lợi nhuận từ kinh doanh phụ trong thời gian Ä‘i sứ.

Tuy nhiên, các Hoàng đế Việt Nam đã thận trọng thực hiện các hoạt động nhằm vô hiệu hóa những hạn chế của hệ thống phiên thuộc mà họ không thể công khai xoá bỏ. Bắt đầu với nhà Trần (1226-1400), những người đứng đầu Việt Nam đã sử dụng tên giả [Giả húy, 假 諱] trong thư tín ngoại giao của họ với triều đình Trung Quốc [Hoàng Xuân Hãn 1967: 143-144]. Người đi thế Quang Trung khi sang Bắc Kinh năm 1790 để nhận tấn phong nhằm mục đích tương tự [Trương Bửu Lâm 1968: 174-177]. Trong những trường hợp này, đối với các nhà cai trị Việt Nam việc lừa dối triều đình Trung Quốc không ý nghĩa bằng việc tìm ra một thủ thuật ngầm để làm mất hiệu lực việc tấn phong của Hoàng đế Trung Quốc: khi việc tấn phong dành cho một thực thể giả, nó sẽ là vô nghĩa. Bằng cách đó, tính độc lập của nền quân chủ Việt Nam ít nhất được bảo đảm.

Dù sao, người Việt Nam đã nhận thức đầy đủ về việc họ vay mượn văn hoá của một nền văn minh, thay vì nhiều nền văn minh khác nhau. Họ vẫn nghĩ như vậy cho đến khi chế độ thuộc địa của Pháp đến buộc Việt Nam phải quay lưng lại với truyền thống Trung Quốc và hướng tới văn hoá phương Tây. Sự hiện diện của Pháp cũng làm gián đoạn xu hướng địa phương hóa xã hội Việt Nam của những người Trung Quốc là thương nhân và người tị nạn đến Việt Nam. Cho đến lúc đó, những người Trung Quốc đến định cư ở Việt Nam đã thích nghi với trật tự chính trị bản địa và thường được coi là đã vượt qua “bài kiểm tra văn hoá”[ii][3]

Sau khi bị áp đặt bởi những nguyên tắc của người Pháp, mối quan hệ lâu dài giữa Hoa kiều vá»›i môi trường văn hoá thay đổi do sá»± kết hợp của chính sách thá»±c dân Pháp và sá»± tập trung cao Ä‘á»™ các lao Ä‘á»™ng nhập cÆ°: không chỉ các Hoa kiều không đồng hoá được môi trường bản địa, mà còn làm cho những người nhập cÆ° sau họ trở nên khó khăn hÆ¡n trong thích nghi. Vá»›i thành công của cuá»™c cách mạng cá»™ng sản ở Trung Quốc năm 1949, tình hình biến đổi hoàn toàn. Không chỉ có mối quan hệ chặt chẽ giữa lãnh đạo và cán bá»™ ở cả hai Đảng Cá»™ng sản Trung Quốc và Việt Nam,[iii][4] mà còn cả triết lý đã nuôi dưỡng Đảng Cá»™ng sản Đông DÆ°Æ¡ng đặc biệt nhấn mạnh vào nguyên tắc “chủ nghÄ©a quốc tế vô sản” và ý tưởng về ‘sá»± hiệp nhất của các đảng anh em’, được so sánh ẩn dụ vá»›i “môi và răng”. Các ấn phẩm gần đây đặc biệt nhấn mạnh vai trò của người Trung Quốc trong việc lập kế hoạch và thậm chí chỉ huy các chiến dịch quân sá»± trong các cuá»™c chiến do Việt nam Dân chủ Cá»™ng hòa  tiến hành chống Pháp và Hoa Kỳ[iv][5]. Thá»±c tế, vá»›i quan hệ chặt chẽ  Việt-Trung thời đó và kinh nghiệm quân sá»± của Trung Quốc, các nhà lãnh đạo dường nhÆ° đã cho phép Trung Quốc có quyền tham gia rá»™ng rãi và ảnh hưởng đến quyết định được Ä‘Æ°a ra trong chiến tranh. Chất lượng má»›i của mối quan hệ Trung-Việt thể hiện trong việc sá»­ dụng thuật ngữ “bọn phong kiến phÆ°Æ¡ng Bắc” để chỉ người Trung Quốc khi họ xâm chiếm Việt Nam. Do đó, sá»± nổi lên của cuá»™c xung Ä‘á»™t Trung-Xô vào cuối những năm 1950 và  bùng nổ năm 1960 dường nhÆ° là má»™t sá»± xáo trá»™n khủng khiếp của trật tá»± tá»± nhiên. TÆ°Æ¡ng tá»±, trong vòng 15 năm tiếp theo, trong khi cuá»™c chiến tranh chống Mỹ phát triển và tiếp tục qua các giai Ä‘oạn khác nhau, người Việt Nam đã kiên nhẫn quản lý được mối quan hệ kép, má»™t mặt nhận được sá»± trợ giúp thiết yếu từ Liên Xô và khối XHCN Châu Âu và mặt kia, từ  Cá»™ng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Chuyển đổi một cách hiệu quả mối quan hệ truyền thống được thể hiện dưới hình thức phiên thuộc thành một mối quan hệ mới trên cơ sở bình đẳng về lý thuyết đòi hỏi phải có sự điều chỉnh lớn trong quan điểm của mỗi quốc gia đối với phía bên kia. Đối với vấn đề đó, áp lực của Trung Quốc dưới bất kỳ hình thức nào cũng được người Việt Nam cảm nhận bằng trực giác như một mối đe dọa đối với sự sống còn của dân tộc. Mặt khác, sự khẳng định của Việt Nam về các lợi ích quốc gia chứ không phải chiều theo chính sách của Trung Quốc cũng được người Trung Quốc cảm nhận theo bản năng như một sự xấc xược gần với bất phục tùng. Như một hệ quả không thể tránh khỏi của sự khác biệt về quy mô giữa hai nước, những cảm xúc này vẫn còn nằm ở gốc rễ của quan hệ Trung-Việt ngày nay như đã từng xảy ra một hoặc hai ngàn năm trước đây. Những nguyên nhân khác nhau của sự đổ vỡ mối quan hệ hòa bình giữa hai nước năm 1978 (khôi phục lại những căng thẳng cũ dọc theo biên giới, sự can thiệp của người Việt để giúp lật đổ chế độ Pol Pot ở Cambodge) có lẽ ít quan trọng hơn so với việc Trung Quốc không thích ý tưởng về một nước Việt Nam thật sự độc lập. Quan hệ Việt-Trung xấu đi kể từ khi Trung Quốc cắt viện trợ vào giữa năm 1978 và kể từ khi Hiệp ước Liên Xô-Việt Nam được ký kết tháng 11 năm đó đã gần đạt đến điểm châm ngòi cho cuộc xâm lăng của Trung Quốc, một sự đảo ngược chính sách cũ của «giới phong kiến phương Bắc»[v][6]. Cuộc tấn công kéo dài 28 ngày này và việc quân đội Trung Quốc rút khỏi Việt Nam kéo theo những diễn biến liên quan, chẳng hạn việc trục xuất người Hoa ra khỏi Việt Nam, thay đổi cán cân lực lượng ở biên giới phía Nam Trung Quốc. Chiến tranh với Việt Nam là một cú tát vào mặt những người theo chủ nghĩa lý tưởng ở Trung Quốc vẫn còn tin vào tính đúng đắn của “chủ nghĩa quốc tế vô sản”[vi][7].

Tuy nhiên, quan hệ ngoại giao Việt-Trung không bị phá vỡ. Bên cạnh đó, khi Liên Xô sụp đổ,  Hà Ná»™i không còn cách nào khác ngoài việc sá»›m nối lại quan hệ vá»›i Bắc Kinh. Chắc chắn, sá»± e ngại và sá»± không đồng thuận vẫn dồn về những ý đồ của Trung Quốc. Những ngờ vá»±c sâu sắc trong lịch sá»­ giữa hai nÆ°á»›c sẽ không dá»… tiêu tan. Trong khi những người bảo thủ Việt Nam, đặc biệt là quân Ä‘á»™i, đánh giá Trung Quốc nhÆ° là đồng minh cá»™ng sản cuối cùng quan trọng nhất, các nhà cải cách chỉ ra mối Ä‘e dọa mà Trung Quốc có thể gây ra trong má»™t hoặc hai thập ká»· khi họ củng cố sức mạnh quân Ä‘á»™i, đặc biệt là hải quân. Tuy nhiên, người Việt Nam đã tích cá»±c tìm cách cải thiện và hoàn toàn bình thường hóa quan hệ thông qua má»™t loạt các chuyến thăm cấp cao và các hiệp định. Quan hệ của Việt Nam vá»›i Trung Quốc  ấm hÆ¡n vào năm 1989, má»™t thập ká»· sau khi quân Ä‘á»™i Trung Quốc tấn công miền Bắc Việt Nam để “dạy cho Việt Nam má»™t bài học” vì đã xâm lược Cambodge. ThÆ°Æ¡ng mại biên giá»›i hÆ°ng thịnh được khôi phục lại. Khách hàng từ khắp Việt Nam đến thị trấn biên giá»›i Ðồng Ðăng để giao thiệp vá»›i các thÆ°Æ¡ng gia tÆ° nhân để mua quạt, phích nÆ°á»›c, xe đạp, băng ghi âm, đồ gốm sứ, bia và hàng tiêu dùng khác do Trung Quốc sản xuất. ThÆ°Æ¡ng nhân Trung Quốc tìm mua hải sản, Ä‘á»™ng vật hiếm để làm thuốc, đồng, vải, rau, thịt và gạo. Về phần mình, Việt Nam đã từ bỏ các chính sách phân biệt đối xá»­ vá»›i Hoa kiều vốn đã khiến cho Bắc Kinh định tố cáo vào năm 1978. Quan chức Việt Nam đã sẵn sàng thừa nhận rằng họ đã mắc sai lầm trong cuá»™c vận Ä‘á»™ng  chuyển đổi xã há»™i chủ nghÄ©a tháng 3 năm 1978 để cải tạo công thÆ°Æ¡ng nghiệp, bắt các hãng công thÆ°Æ¡ng nghiệp tÆ° nhân theo tÆ° bản ở miền Nam – khoảng má»™t ná»­a trong số đó là người Hoa.

Rõ ràng, Trung Quốc đã trở thành má»™t cường quốc khu vá»±c duy nhất, làm bất cứ việc gì cÅ©ng phải xem xét mọi ý đồ và chính sách của họ. Vị trí của Trung Quốc trong sá»± cân bằng quyền lá»±c của châu Á có thể là của má»™t nÆ°á»›c Trung Hoa má»›i, má»™t phiên bản hiện đại bắt đầu hình thành rõ ràng khi Bắc Kinh tìm cách khôi phục lại vị trí lịch sá»­ của Trung Quốc nhÆ° là cường quốc của châu Á. Trong quan hệ quốc tế,  sức mạnh quân sá»±, chính trị ná»™i bá»™, tiến bá»™ kinh tế và chủ nghÄ©a dân tá»™c lên cao, Trung Quốc nổi lên nhÆ° má»™t cường quốc châu Á mà mọi quốc gia phải tính đến. Khái niệm Trung Quốc nhÆ° là cường quốc vượt trá»™i ở châu Á đã quay trở lại, vì vậy mà không má»™t quyết định nào Ä‘Æ°a ra mà thiếu sá»± phê chuẩn của Bắc Kinh[vii][8]. NhÆ°ng, khi Bắc Kinh tuyên bố bắt buá»™c phải có “mối quan hệ tốt đẹp vá»›i các nÆ°á»›c xung quanh”, Giang Trạch Dân đã trích dẫn Tân Hoa Xã, cÆ¡ quan thông tấn quốc gia Trung Quốc, nói về xung Ä‘á»™t Trung-Việt năm 1979  rằng “má»™t số vấn đề lịch sá»­ còn lại” có thể được giải quyết hợp lý, miá»…n là hai bên biết nhìn xa trông rá»™ng, hiểu nhau và tham khảo ý kiến ​​má»™t cách công bằng và hợp lý. Trong những trường hợp này, sức mạnh chính định hình chính sách đối ngoại của Việt Nam phải là Trung Quốc. Trong những năm gần đây, quay trở lại vá»›i Trung Quốc nhÆ° là má»™t nguồn há»— trợ tÆ° tưởng và chính thống, các nhà lãnh đạo Đảng Cá»™ng sản Việt Nam liên tục thá»±c hiện các chuyến hành hÆ°Æ¡ng của họ đến Bắc Kinh, nÆ¡i họ cam kết các mối quan hệ về ý thức hệ vá»›i các đối tác Trung Quốc của họ, viện dẫn các ngôn từ hoa mỹ của chủ nghÄ©a marxisme-léninisme và cam kết Ä‘Æ°a quan hệ Việt-Trung lên “má»™t tầm cao má»›i”.

Ngày 8 tháng 12 năm 1997, Lý Thụy Hoàn李瑞環, Ủy viên thường vụ Bá»™ Chính trị Đảng Cá»™ng sản Trung Quốc và là Chủ tịch Hiệp thÆ°Æ¡ng chính trị nhân dân Trung Quốc [Mặt trận tổ quốc], tuyên bố trong chuyến thăm Việt Nam: «Trung Quốc và Việt Nam núi liền núi sông liền sông, nhân dân hai nÆ°á»›c chia sẻ tình hữu nghị truyền thống qua bao đời nay. Trong cuá»™c đấu tranh cách mạng dài lâu, nhân dân Trung Quốc và Việt Nam đã ủng há»™ và giúp đỡ lẫn nhau, chia ngọt sẻ bùi, chiến đấu bên cạnh nhau và tạo ra má»™t sá»± đồng cảm cách mạng sâu sắc. Trong những năm qua, Trung Quốc và Việt Nam đã đạt được tiến bá»™ đáng kể trong mối quan hệ láng giềng và hữu nghị tốt đẹp. Trung Quốc và Việt Nam chia sẻ các mục tiêu và nhiệm vụ cÅ©ng nhÆ° những khó khăn chung … ». Đáp lại, Chủ tịch nÆ°á»›c Trần Ðức LÆ°Æ¡ng bày tỏ: “Việt Nam coi trọng mối quan hệ hữu nghị truyền thống vá»›i Trung Quốc, và sẽ làm việc hết mình để thá»±c hiện các mối quan hệ hợp tác vá»›i Trung Quốc má»™t cách toàn diện, trên tinh thần hữu nghị vào thế ká»· XXI”[viii][9]. Kể từ đó, các diá»…n ngôn chính thức đều nhấn mạnh mối quan tâm chung rất quan trọng mà cả Trung Quốc và Việt Nam đều chia sẻ là phát triển thành công “nền kinh tế thị trường xã há»™i chủ nghÄ©a”. Trung Quốc đứng má»™t mình trong số 5 quốc gia xã há»™i chủ nghÄ©a còn lại và được coi là thành công trong ná»— lá»±c thá»±c hiện tÆ° tưởng này. Hành trình tá»›i Trung Quốc để nghiên cứu khả năng áp dụng các cải cách thị trường xã há»™i chủ nghÄ©a kiểu Trung Quốc đối vá»›i Việt Nam, do đó là thiết yếu. Bốn tÆ°Æ¡ng đồng cÆ¡ bản giữa các cuá»™c cải cách ở Trung Quốc và Việt Nam được kể ra là: theo Ä‘uổi chủ nghÄ©a xã há»™i có tính đến Ä‘iều kiện của từng quốc gia; đổi má»›i và cải cách làm cÆ¡ sở thúc đẩy phát triển kinh tế và ổn định tình hình chính trị; huy Ä‘á»™ng nguồn lá»±c trong nÆ°á»›c đồng thời tận dụng hợp tác quốc tế; tất yếu phải có sá»± lãnh đạo của Đảng Cá»™ng sản.[ix][10]

Phát biểu trÆ°á»›c Quốc há»™i Việt Nam ngày 28 tháng 11 năm 1998, Bá»™ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyá»…n Mạnh Cầm tuyên bố: ” Nhận thức rõ ràng tầm quan trọng của quan hệ Việt-Trung, chúng ta đã tích cá»±c và chủ Ä‘á»™ng đẩy mạnh tình hữu nghị và quan hệ hợp tác vá»›i nÆ°á»›c Cá»™ng hòa Nhân dân Trung Hoa trong nhiều lÄ©nh vá»±c. Chúng ta cÅ©ng đã duy trì tất cả các cuá»™c họp cấp cao hàng năm. Sá»± kiện nổi bật nhất trong năm nay là chuyến thăm hữu nghị chính thức tá»›i Trung Quốc của Thủ tÆ°á»›ng Phan Văn Khải vào tháng 10. Việc trao đổi các chuyến thăm giữa các ngành và địa phÆ°Æ¡ng ở hai nÆ°á»›c tiếp tục phát triển tích cá»±c. Chỉ riêng trong 9 tháng đầu năm nay, 80 chuyến viếng thăm trao đổi đã được thá»±c hiện bởi các phái Ä‘oàn từ cả hai phía ở tất cả các cấp. Chúng ta đã tích cá»±c Ä‘Æ°a ra các biện pháp thiết thá»±c để tăng cường hiệu quả của hợp tác kinh tế, thÆ°Æ¡ng mại, đầu tÆ° và tăng khối lượng thÆ°Æ¡ng mại. Chúng ta Ä‘ang phấn đấu Ä‘Æ°a khối lượng thÆ°Æ¡ng mại song phÆ°Æ¡ng lên 2 tá»· đô la vào năm 2000. Gần đây, các hiệp định thÆ°Æ¡ng mại biên giá»›i, trợ giúp pháp lý và các dịch vụ lãnh sá»± sẽ giúp khôi phục lại trật tá»± quản lý khu vá»±c biên giá»›i. Chúng ta đã cố gắng đẩy nhanh quá trình đàm phán cho việc ký kết thoả thuận về biên giá»›i đất liền và thoả thuận về việc phân định Vịnh Bắc Bá»™ vào năm 2000 phù hợp vá»›i sá»± đồng thuận của các nhà lãnh đạo cấp cao của hai nÆ°á»›c. Nói tóm lại, chúng ta đã thá»±c hiện được những tiến bá»™ đáng kể trong mọi cuá»™c đàm phán”[x][11].

Về vấn đề biên giá»›i trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc, các cuá»™c đàm phán tẻ nhạt và không mang tính chiến lược, liên quan đến hàng trăm Ä‘iểm còn gây bất đồng trong Ä‘o lường liên quan đến những sai số dÆ°á»›i vài trăm mét có nguồn gốc từ má»™t bản đồ thế ká»· trÆ°á»›c. Tuy nhiên, tranh cãi về đất Ä‘ai biên giá»›i được giải quyết nhanh chóng. Tháng 12 năm 1999, Việt Nam và Trung Quốc đã đạt được má»™t thỏa thuận lịch sá»­ về phân định ranh giá»›i đất liền. Má»™t năm sau, má»™t thỏa thuận khác giải quyết vấn đề Vịnh Bắc Bá»™ bằng cách vẽ đường chia đều giữa Việt Nam và đảo Hải Nam. Tuy nhiên, hai bên vẫn còn xa nhau khi đề cập đến hai quần đảo trên biển Đông nÆ¡i họ có những tuyên bố tranh chấp về Trường Sa và Hoàng Sa[xi][12]. Hai nhóm đảo tranh chấp ngoài khÆ¡i bờ biển Việt Nam vẫn là những Ä‘iểm nóng tiềm ẩn trong quan hệ Việt-Trung. Trường Sa (Nam Sa theo tiếng Trung Quốc), “hòn đảo của những nÆ¡i nguy hiểm”, nhÆ° cách gọi của các thủy thủ thế ká»· XIV, có tầm quan trọng vì các mỏ dầu tiềm năng, các vùng đánh cá phong phú và vị trí chiến lược cùng vá»›i các tuyến vận tải chính thông qua biển  [Đông của Việt Nam]. Trung Quốc nhắc lại những gì họ gọi là “Chủ quyền không thể tranh cãi” kể từ triều đại nhà Đường đối vá»›i Trường Sa. Việt Nam tuyên bố chủ quyền dá»±a vào các bản đồ thời Pháp thuá»™c và bằng chứng khảo cổ học (đặc biệt là gốm Việt Nam có niên đại thế ká»· XIII). Má»™t số ná»™i dung tranh cãi liên quan đến vấn đề định nghÄ©a. Điều thá»±c sá»± quan trọng là hình ảnh mà những hòn đảo này đại diện, biểu tượng. Nếu mối quan hệ vá»›i Trung Quốc đã được cải thiện liên tục trong thập ká»· vừa qua kể từ khi bình thường hoá quan hệ, tất cả không có gì ngoài việc hoà giải liên quan đến Trường Sa.

Những tranh chấp lãnh thổ này vẫn còn âm ỉ, dù vào tháng 6 năm 2000, 21 năm sau khi hàng nghìn binh lính Trung Quốc đổ vào Việt Nam để dạy cho Việt Nam má»™t bài học vì đã xâm lược Cambogde vào Giáng sinh năm 1978, 16 trong số các quan chức cấp cao nhất của Việt Nam đã tá»›i Trung Quốc để thảo luận má»™t bài học khác, không được tuyên bố công khai: làm thế nào để cải cách má»™t nền kinh tế xã há»™i chủ nghÄ©a mà không mất Ä‘i sá»± kiểm soát của Đảng. Sá»± phát triển là má»™t Ä‘iều phi thường. Vá»›i nền kinh tế ảm đạm và Đảng Cá»™ng sản Việt Nam bị ám ảnh phải duy trì vai trò lãnh đạo, Hà Ná»™i dường nhÆ° tìm kiếm chá»— cứu há»™ trong mối quan hệ gần gÅ©i vá»›i kẻ thù lâu đời nhất [Chanda, 2000]. Được Ä‘iều hành bởi Uá»· viên Bá»™ Chính trị Trung Quốc Lý Đình Giá»›i 李廷介, các đại biểu Việt Nam đã tham gia “Toạ đàm lý luận” kéo dài 2 ngày, bắt đầu từ 13 tháng 6, sau đó đến Tây Nam Trung Quốc để tiến hành khảo sát thá»±c địa về cải cách kinh tế. Khi cuá»™c họp bắt đầu, Bắc Kinh tuyên bố đã cho Việt Nam 55 triệu đô la để nâng cấp hai nhà máy thép và phân bón do Trung Quốc xây dá»±ng. Cuá»™c họp là má»™t trong nhiều dấu hiệu của nối lại tình hữu nghị, nếu không thì là việc Việt Nam quay trở về vá»›i má»™t trong những vai trò lịch sá»­ của nó, trong đó Việt Nam là học sinh và Trung Quốc là thày giáo. Đây được gọi là thuật ngữ chính thức nhÆ° là tình bạn dá»±a trên “16 chữ vàng”, mà báo Nhân Dân của Đảng Cá»™ng Sản Việt Nam kể ra:  “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hÆ°á»›ng tá»›i tÆ°Æ¡ng lai” [xii] [13].

Tờ báo nhấn mạnh rằng việc trao đổi quan điểm và kinh nghiệm, đặc biệt trong giáo dục chính trị, giữa hai bên là rất cần thiết cho việc xây dựng và đổi mới đảng trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Như vậy, sự hiểu biết lẫn nhau và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ được phát triển theo nguyện vọng và lợi ích của mỗi quốc gia.

Rõ ràng, các Ä‘á»™ng thái chiến thuật nằm dÆ°á»›i sá»± ấm dần lên sau má»™t thời kỳ xung Ä‘á»™t giữa hai nÆ°á»›c. “Hãy nhá»› rằng, sau khi đánh bại Trung Quốc, chúng tôi luôn gá»­i lời tri ân”, má»™t  quan chức của Việt Nam nói về sá»± bá»±c bá»™i gần đây của Hà Ná»™i. Tuy nhiên, má»™t số ở Việt Nam nghi ngờ về sá»± khôn khéo đằng sau. Trần Bạch Ðằng, má»™t nhà lãnh đạo cá»™ng sản kỳ cá»±u ở thành phố Hồ Chí Minh, tuyên bố thẳng thừng rằng Trung Quốc Ä‘ang tiến hành chiến tranh kinh tế chống lại Việt Nam bằng cách làm tràn ngập thị trường của Việt bằng hàng hóa giá rẻ [Chanda, 2000]. Nói về tranh chấp lãnh thổ của Việt Nam vá»›i Trung Quốc ở biển Nam Trung Hoa, ông nói: “Trung Quốc là mối Ä‘e dọa không chỉ đối vá»›i Việt Nam mà còn đối vá»›i thế giá»›i. Trung Quốc đã tấn công tất cả các nÆ°á»›c láng giềng: Ấn Độ, Việt Nam và Nga”. Mặc dù họ chia sẻ các quan niệm chung về xã há»™i chủ nghÄ©a, sá»± gần gÅ©i về mặt địa lý, và các mối quan hệ đã bình thường hoá, cả hai quốc gia vẫn còn cảnh giác vá»›i nhau.

TÆ° tưởng và mối quan tâm quốc gia chi phối việc bình thường hóa và phát triển quan hệ Việt-Trung. Trung Quốc và Việt Nam Ä‘ang chứng kiến ​​má»™t tình huống má»›i khi cÆ¡ há»™i và thách thức cùng tồn tại. Vì cả hai quốc gia Ä‘ang chia sẻ má»™t gắn kết chung – tÆ° tưởng cá»™ng sản, cải cách kinh tế, và há»™i nhập trong nền kinh tế toàn cầu – họ thể hiện những tÆ°Æ¡ng đồng tuyệt đối. Các nhà lãnh đạo Việt Nam đặc biệt muốn biết Đảng Cá»™ng sản Trung Quốc đã cân nhắc ra sao những rủi ro đối vá»›i chế Ä‘á»™ Ä‘á»™c đảng khi tham gia WTO, và nó tác Ä‘á»™ng nhÆ° thế nào  đến người dân Trung Quốc. Họ muốn tìm hiểu làm thế nào để bảo đảm rằng nguyên tắc cá»™ng sản không bị phá vỡ khi mở cá»­a ra vá»›i kinh tế thế giá»›i[xiii][14]. CÅ©ng giống nhÆ° ở Trung Quốc, chống tham nhÅ©ng nhằm mục đích nhằm củng cố nền tảng chính trị của má»™t nhóm nắm quyền. Các nhà tÆ° tưởng Trung Quốc và Việt Nam đồng thuận trong việc đạo đức hóa hình ảnh Đảng Cá»™ng sản của họ để chống lại các cú sốc từ bên ngoài. Và cÅ©ng giống nhÆ° Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Việt Nam tìm thấy má»™t kẻ thù nÆ°á»›c ngoài thích hợp, và nếu nhÆ° không có, họ phải tạo ra: cáo buá»™c lâu dài về “gián Ä‘iệp nÆ°á»›c ngoài” không phải là Ä‘iều có thể được chứng minh, nhÆ°ng phục vụ má»™t mục đích tốt, vì vậy chính quyền Hà Ná»™i vẫn tiếp tục chiến dịch chống lại kẻ thù này. Đối vá»›i vấn đề đó, sá»± đàn áp của Trung Quốc giành cho Pháp Luân Công không nghi ngờ gì đã được các lãnh đạo Việt Nam khen ngợi và coi là nhằm tăng cường các xu hÆ°á»›ng đàn áp đối vá»›i bất kỳ nhóm nào cố gắng hoạt Ä‘á»™ng Ä‘á»™c lập vá»›i quyền lá»±c nhà nÆ°á»›c. Quan Ä‘iểm của Trung Quốc về nhân quyền và tá»± do tôn giáo là đối trọng chống lại áp lá»±c của phÆ°Æ¡ng Tây và củng cố mạnh thái Ä‘á»™ chính thức của Việt Nam.

Mặc dù vậy, mục tiêu cơ bản của Việt Nam vẫn là tránh phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc. Cuộc khủng hoảng châu Á đã làm thay đổi vị thế của Việt Nam trong không gian của khu vực. Tìm kiếm sự cân bằng giữa Đông Nam Á và Trung Quốc, chính phủ Việt Nam thực hiện một cách tiếp cận chiến lược và chính trị trong lĩnh vực quan hệ đối ngoại, ngược lại với hành động có xu hướng nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia của mình. Trên thực tế, việc Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995 chủ yếu là từ các động cơ chính trị: niềm tin rằng những xích mích xưa cũ giữa Việt Nam và Trung Quốc ít có khả năng bùng phát thành xung đột công khai khi Việt Nam thuộc về ASEAN, một nhóm có tầm quan trọng lớn đối với Trung Quốc. Trong khi đó, trong lĩnh vực kinh tế, Việt Nam cạnh tranh với Trung Quốc trong một loạt các mặt hàng xuất khẩu từ giày dép đến dệt may, và các doanh nhân địa phương đã kinh ngạc trước triển vọng đối mặt với một người khổng lồ cạnh tranh như vậy ở phía Bắc khi các cam kết cải cách của Trung Quốc với WTO được kích hoạt. Mối quan ngại là hàng hoá Trung Quốc, đã được bán rộng rãi ở Việt Nam, có thể tiếp tục tràn ngập khi nền kinh tế Trung Quốc tiếp tục tăng tốc. Hiện nay, mặc dù Hà Nội rõ ràng trải nghiệm những cảm xúc phức tạp về đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam, họ muốn thấy việc buôn lậu hàng Trung Quốc phải chấm dứt ở biên giới.

Như vậy, Việt Nam dựa vào hệ tư tưởng để đạt được các mối quan hệ song phương có khả năng ngăn ngừa xung đột còn bỏ ngỏ, trong khi thừa nhận vị thế quốc tế vượt trội hiện tại của Trung Quốc, đáp lại các cam kết của họ đối với an ninh và thương mại quân bình. Tất cả mọi thứ đều được xem xét, tuy nhiên, những tương đồng về ý thức hệ dường như vẫn chưa đủ để chiếm ưu thế trong suốt lịch sử thù hận và nghi kị mà cả Trung Quốc và Việt Nam đều có điểm chung[xiv][15].

T.P.H dịch

Tài liệu tham khảo:

Bùi Xuân Quang (2000),  La troisième guerre d’Indochine, 1975-1999. Sécurité et géopolitique en Asie du Sud-Est. Paris, L’Harmattan.

Chanda, Nayan (2000),  “Friend or Foe? Hanoi has embarked on a controversial policy of closer ties with its oldest enemy – China”. Far Eastern Economic Review, June 22.

Chemillier-Gendreau, Monique (1996) La souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys. Paris, L’Harmattan.

Đại-Việt sử ký toàn thư. Bản dịch:1983. Hanoi, Nxb. Khoa học Xã hội, vol. 1.

Eastman, Lloyd E. (1967), Throne and mandarins. China’s search for a policy during the Sino-French controversy, 1880-1885. Cambridge, Harvard U.P.

Goscha, Christopher E. (1999),  “Entremêlements sino-vietnamiens: Réflexions sur le sud de la Chine et la révolution vietnamienne entre les deux guerres”. Approches-Asie 16:81-108.

Hoàng Xuân Hãn (1967) “Vụ Bắc-Sứ năm Canh thìn đời Cảnh Hưng”. Sử Ðịa [History-Geography, Saigon] 6: 3-5, 142-155.

Nguyễn Thế Anh (1989) “La frontière sino-vietnamienne du xie au xviie siècle”. In Les frontiers du Vietnam. Paris, L’Harmattan: 65-69.

Nguyễn Thế Anh (1990), Le Đại-Việt et ses voisins. Paris, L’Harmattan.

Nguyá»…n Thế Anh (1996),  “L’immigration chinoise et la colonisation du delta du Mékong”. The Vietnam Forum, 1: 154-177.

Nguyá»…n Việt, VÅ© Minh Giang, Nguyá»…n Mạnh Hùng (1983), Quân thủy trong lịch sá»­ chống ngoại xâm. Hà Ná»™i:  Quân Ä‘á»™i nhân dân.

O’Harrow, Stephen (1979), “Nguyễn Trãi’s Bình ngô đại cáo 平吳大誥 of 1428: The Development of a Vietnamese National Identity”, Journal of Southeast Asian Studies,10-1.

Qiang Zhai (2000) China and the Vietnam wars, 1950-1975. Chapel Hill, University of North Carolina Press.

Stuart-Fox, Martin (2002) China and Southeast Asia. St Leonards, Allen and Unwin, 2002.

Taylor, Keith W. (1983) The Birth of Vietnam. Berkeley, University of California Press.

Trocki, Carl A. (1997) “Chinese Pioneering in Eighteenth-Century Southeast Asia”, The Last Stand of Asian Autonomies, A. Reid ed. Houndmills, Macmillan Press: 83-101.

Trương Bửu Lâm(1968). “Intervention versus tribute in Sino-Vietnamese relations”. In The Chinese World Order, John K. Fairbank ed. Cambridge, Harvard U.P.: tr.165-179.

Văn học Việt Nam trên những chặng đường chống phong kiến Trung Quốc xâm lược (1981),  Hanoi, Nxb. Khoa học Xã há»™i.

Việt sử lược. Trần Quốc Vượng dịch: 1960. Hà Nội: Văn Sử Địa, 1960.

Wolters, O. W. (1979), “Historians and emperors in Vietnam and China: Comments arising out of Lê Văn Hưu’s History, presented to the Trần court in 1272”. In Perceptions of the Past in Southeast Asia, A. Reid & D. Marr ed. Singapore, Heinemann.

Wolters, O. W. (1999), History, Culture and Region in Southeast Asian Perspectives. Ithaca, seap.

 Woodside, Alexander (1971), Vietnam and the Chinese Model . Cambridge, Harvard University Press.

 Woodside, Alexander (1982), “Conceptions of Change and of Human Responsibility for Change in Late Traditional Vietnam”. In Moral Order and the Question of Change:Essays on Southeast Asian Thought , David K. Wyatt & Alexander Woodside ed. New Haven, Yale Univ. Southeast Asian Studies: tr.104-150.

Woodside, Alexander (1988) “Vietnamese History: Confucianism, Colonialism, and the Struggle for Independence”, The Vietnam Forum  11: 21-48.

Woodside, Alexander (1997). “The Relationship between Political Theory and Economic Growth in Vietnam, 1750-1840”. In The Last Stand of Asian Autonomies. Responses to Modernity in the Diverse States of Southeast Asia and Korea, 1750-1900 , A. Reid ed.Houndmills, Macmillan Press: tr. 245-268.


[i] [2] Ở nửa sau thế kỷ XIX, người phát ngôn Trung Quốc là Tăng Kỷ Trạch vẫn còn tuyên bố rằng “Việt Nam thuộc Trung Hoa”, do đó “Trung Hoa có trách nhiệm bảo hộ toàn bộ lãnh thổ của Việt Nam” (dẫn theo Eastman, 1967: 39).

[ii] [3] Xem Nguyễn Thế Anh, 1996 và Trocki, 1997.

[iii] [4] Về những tranh luận của mối quan hệ qua lại trước 1945 giữa ĐCS Trung Quốc và Việt Nam, xem Goscha, 1999.

[iv] [5] Quang Zhai 2000.

[v] [6] Về vấn đề này, xem Bùi Xuân Quang: 2000.

[vi] [7] Trong ghi chép cá nhân, Martin Stuart-Fox cho rằng cú tát này lớn hơn đối với những người theo chủ nghĩa lý tưởng ở Việt Nam vốn hy vọng “chủ nghĩa quốc tế vô sản” có thể thay thế cho “chủ nghĩa bành trướng” truyền thống.

[vii] [8] Xem Stuart-Fox 2002, tác giả chứng minh rằng, khi sức mạnh của Trung Quốc gia tăng và chủ nghĩa Marx được thay thế bằng chủ nghĩa dân tộc, không chỉ Trung Quốc quay trở lại các mối quan hệ truyền thống với Đông Nam Á, mà các quốc gia Đông Nam Á cũng đang đáp lại theo cùng một hướng.

[viii] [9] Xinhua Domestic Service [Phát thanh quốc nội của Tân Hoa xã], 8/12/1997.

[ix] [10] Nhân Dân, 16/10/1998.

[x] [11] Bài phát biểu của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm tại phiên khai mạc thứ 4, kỳ họp thứ 10 Quốc hội Việt Nam, 28/11/1998.

[xi] [12] Xem Chemillier-Gendreau: 1996.

[xii] [13] Kể từ khi bình thường hoá quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam năm 1991, việc trao đổi chuyến thăm và tÆ° vấn thường xuyên về các vấn đề lá»›n giữa lãnh đạo hai nÆ°á»›c được coi là đóng má»™t vai trò không thể thay thế trong việc thúc đẩy quan hệ song phÆ°Æ¡ng. Gần đây, trong má»™t bài xã luận ngày 7 tháng 9 năm 2001, báo Nhân Dân mô tả chuyến thăm Hà Ná»™i của Chủ tịch Uá»· ban Thường vụ Quốc há»™i Trung Quốc Lý Bằng nhÆ° má»™t nguồn Ä‘á»™ng viên cho nhân dân Việt Nam và má»™t biểu hiện sống Ä‘á»™ng của hai nÆ°á»›c mong muốn phát triển mối quan hệ trên nguyên tắc “:  “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hÆ°á»›ng tá»›i tÆ°Æ¡ng lai””. Tờ báo này cÅ©ng ca ngợi những thành công lá»›n của nhân dân Trung Quốc dÆ°á»›i sá»± lãnh đạo của Đảng Cá»™ng sản Trung Quốc đã đạt được thành tá»±u trong xây dá»±ng quốc gia, phát triển kinh tế đều đặn trong hÆ¡n hai thập ká»· cải cách và mở cá»­a. Tờ báo nhắc lại rằng, kể từ đầu những năm 1990, hai nÆ°á»›c đã phấn đấu để thúc đẩy kinh tế chính trị, trao đổi văn hoá nhằm nâng cao hợp tác toàn diện song phÆ°Æ¡ng trong các khía cạnh má»›i. 

[xiii] [14] Cụ thể, quyết định đưa ra vào giữa năm 2001 để hoàn thiện sửa đổi hiến pháp năm 1992, với chủ trương tôn vinh quyền của khu vực tư nhân, khuyến khích Việt Nam bám sát kế hoạch của Trung Quốc trong việc cho phép các doanh nhân tham gia Đảng Cộng sản cầm quyền.

[xiv] [15] Việc thay thế Lê Khả Phiêu trong chức vụ  người đứng đầu Đảng Cá»™ng sản Việt Nam vào đầu năm 2001 là do quá gần gÅ©i vá»›i Trung Quốc và những cáo buá»™c ông đã nhân nhượng quá nhiều trong đàm phán đường biên giá»›i vá»›i Bắc Kinh, luôn được coi là đối thủ truyền thống của Việt Nam mặc dù có hệ tÆ° tưởng chung.

http://viet-studies.net/kinhte/NguyenTheAnh_SucHutLucDayQuanHeVietTrung.html

Xung đột Mỹ – Trung là về giá trị hay quyền lực? – Phạm Phú Khải

Friday, April 23rd, 2021

20/04/2021

Cuộc gặp gỡ giữa hai phái đoàn Mỹ – Trung tại Anchorage, Alaska vào hai ngày 18, 19 tháng Ba

Cuộc gặp gỡ giữa hai phái đoàn Mỹ – Trung tại Anchorage, Alaska vào hai ngày 18, 19 tháng Ba cho thấy sự đối đầu ngày càng leo thang giữa hai cường quốc. Chính sách ngoại giao mềm mỏng thông thường đã nhường bước; chính sách tố cáo, công khai chỉ mặt điểm tên, đã lên ngôi. Động cơ của sự xung đột đối đầu trên bề mặt là quyền lực. Nhưng bên dưới là sự khác biệt, hay đối nghịch, về nguyên tắc và giá trị. Nhất là giá trị về quyền con người.

Như đã trình bày trong bài trước, trước buổi gặp mặt này, chính quyền Biden đã dồn Bắc Kinh vào góc chân tường: từ cuộc họp thượng đỉnh Bộ tứ QUAD, cho đến việc bổ nhiệm Kurt Campbell, và các tuyên bố thẳng thừng và không khoan nhượng của Mỹ về tình trạng nhân quyền của Trung Quốc tại Hồng Kông và Tân Cương, gọi là tội diệt chủng, cũng như các trò hiếp đáp cưỡng bức kinh tế của Trung Quốc với Úc và bao nước khác. Chính quyền Biden cũng đã trừng phạt 24 viên chức Trung Quốc và Hồng Kông về sự vi phạm nhân quyền trước buổi họp. Ngay từ giây phút đầu của cuộc gặp gỡ, Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken đã thẳng thừng tấn công và cảnh báo Trung Quốc ở những vấn đề nhạy cảm nhất của họ.

Vì thế, không có gì ngạc nhiên khi thấy sự lên gân và phản ứng gay gắt từ phái đoàn Trung Quốc. Nhà ngoại giao hàng đầu của Trung Quốc Dương Khiết Trì đã cảnh báo Mỹ không nên can thiệp vào “công việc nội bộ” của Trung Quốc, vu khống Mỹ là “nhà vô địch” của các cuộc tấn công mạng, chế nhạo sự ổn định trong nước của Mỹ và thách thức hồ sơ riêng của Mỹ về nhân quyền v.v…

Dường như phái đoàn Mỹ cũng đã tiên liệu phản ứng này. Theo một viên chức cao cấp của Mỹ, phái đoàn Mỹ đến gặp phái đoàn Trung để khẳng định các nguyên tắc, lợi ích và giá trị thúc đẩy cam kết đối với Bắc Kinh, chứ không phải để có những lời thuyết trình cường điệu nhắm vào khán giả trong nước.

Tuy nhiên, để đáp trả phái đoàn Bắc Kinh, Blinken trình bày các điểm chính sau đây: Mỹ luôn quan niệm, từ thời lập quốc đến nay, rằng cung cách lãnh đạo của Mỹ đối với quốc gia là một nhiệm vụ không ngừng để xây dựng một hiệp chủng quốc hoàn hảo hơn. Điều đó có nghĩa là, thừa nhận những điểm không hoàn hảo của chúng tôi, thừa nhận rằng chúng tôi không hoàn hảo. Vâng, Mỹ mắc phải sai lầm. Có lúc nước Mỹ có những bước lùi. Nhưng những gì Mỹ đã làm trong suốt lịch sử của mình là đương đầu với những thách thức đó – một cách công khai, công cộng, và minh bạch – chứ không cố gắng phớt lờ chúng, không cố gắng giả vờ như chúng không tồn tại. Blinken ghi nhận đôi khi nó đau đớn, đôi khi nó xấu xí, nhưng mỗi lần vượt qua được thử thách đó thì nước Mỹ trở nên mạnh mẽ hơn, tốt hơn, đoàn kết hơn, với tư cách là một quốc gia.

Người trưởng phái đoàn Mỹ Antony Blinken chứng tỏ sự khiêm tốn, nhưng luôn thể hiện sự tự tin và tự trọng trong tư duy và hành động. Đây là điểm khác biệt lớn lao trong cách nhìn nhận, thái độ, cung cách lãnh đạo và giải quyết vấn đề của Mỹ so với Trung Quốc.

Giới lãnh đạo Trung Quốc hiếm khi nào, nếu không phải là không bao giờ muốn và không hề thừa nhận những sai lầm lớn lao của họ về mặt đối nội hay đối ngoại, ngay cả khi chứng cớ quá rõ ràng. Thừa nhận sai lầm, trong tư duy họ, là phơi bày sự yếu đuối của mình. Là mất mặt. Và mất chính nghĩa. Vì tư duy này mà họ không thể chấp nhận các ý kiến phê bình công khai, hay các phiên bản lịch sử nào bất lợi đối với họ. Đó cũng là lý do mà họ tìm mọi cách để kiểm soát thông tin/ngôn luận, kiểm soát giáo dục, và nhất là kiểm soát và kiểm duyệt mọi vấn đề liên quan đến lịch sử Trung Quốc.

Trong khi đó, quan niệm của Mỹ là họ không hoàn hảo, nên phải cố gắng cải tiến không ngừng. Mỗi thế hệ phải nỗ lực cải thiện và củng cố, chứ không phải chỉ dựa vào thành quả có sẵn. Họ không an phận, hay tự hào và tự kiêu quá thái. Họ công khai thừa nhận lỗi lầm như thực tế và thử thách để đối diện giải quyết, thay vì giấu diếm và lường gạt người dân.

Chẳng hạn, về vấn đề nhân quyền. Khi thực hiện các bản báo cáo về nhân quyền trên thế giới hàng năm, Văn phòng Dân chủ, Nhân quyền và Lao động của Bộ Ngoại giao Mỹ có một dàn nhân sự chuyên môn và hùng hậu, gồm hàng trăm biên tập viên, 11 biên tập viên cao cấp, một tổng biên tập và một cố vấn. Văn phòng đã sử dụng thông tin từ các đại sứ quán và lãnh sự quán Hoa Kỳ ở nước ngoài, các quan chức chính phủ nước ngoài, các tổ chức phi chính phủ và quốc tế, luật gia và chuyên gia pháp lý, nhà báo, học giả, nhà hoạt động lao động và các báo cáo đã xuất bản. Trong khi đó, các bản báo cáo của Trung Quốc về tình trạng nhân quyền của Mỹ thì thiếu hẳn tính chuyên môn, và mục tiêu chủ yếu là để trả đũa Mỹ phê bình nhân quyền mình. Vì thế học giả Fareed Zakaria mới phê bình các báo cáo của Trung Quốc trích dẫn các số liệu không liên quan đến vi phạm nhân quyền như số thất nghiệp, số người nghèo, sở hữu súng, v.v… Zakaria đề nghị chính phủ Trung Quốc nên để báo cáo cho các học giả nghiêm túc của Trung Quốc thực hiện, mà Zakaria tin là có nhiều người, chứ không phải là bộ phận tuyên truyền của Đảng Cộng sản, nơi dường như đã viết báo cáo.

Quan niệm về nhân quyền của Mỹ và Trung khác nhau một trời một vực. Định nghĩa nhân quyền của Bắc Kinh thì chỉ phục vụ cho mục tiêu chính trị và quyền lực của họ.

Trong khi đó, cách trình bày về nhân quyền của Ngoại trưởng Blinken rất khác, như sau.

Thứ nhất, một trong những nguyên tắc cốt lõi của quyền con người là chúng có tính phổ quát. Tất cả mọi người đều được hưởng những quyền này, bất kể họ sinh ra ở đâu, họ tin gì, họ yêu ai hoặc bất kỳ đặc điểm nào khác. Quyền con người cũng được bình đẳng; không có hệ thống phân cấp nào làm cho một số quyền quan trọng hơn những quyền khác.

Thứ hai, quyền con người cũng phụ thuộc lẫn nhau. Nếu bạn không thể tập hợp nhau một cách hòa bình, làm thế nào bạn có thể tổ chức một công đoàn hoặc một đảng đối lập, hoặc thực hiện quyền tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng của bạn? Nếu bạn bị từ chối quyền tiếp cận công việc hoặc giáo dục bình đẳng, vì màu da hoặc tính giới của bạn, làm thế nào bạn có thể đạt được sức khỏe và hạnh phúc cho bản thân và gia đình?

Thứ ba, tôn trọng nhân quyền có nghĩa là đứng về tự do và công lý cho tất cả mọi người. Không chỉ ở trong nước Mỹ, mà còn trên khắp thế giới. Blinken cho biết, Mỹ nhận được phản hồi từ một số quốc gia, như thường lệ, rằng Mỹ không có quyền chỉ trích họ vì Mỹ cũng có những thách thức riêng phải đối phó. Blinken xác nhận Mỹ vẫn có nhiều việc phải làm trong nước về nhân quyền. Điều đó bao gồm giải quyết những bất bình đẳng sâu sắc, bao gồm cả phân biệt chủng tộc có hệ thống. Nhưng Mỹ không giả vờ như những vấn đề này không tồn tại hoặc cố gắng che giấu chúng dưới tấm thảm. Mỹ sẽ đối phó với chúng trong ánh sáng ban ngày, với sự minh bạch hoàn toàn.

Rõ ràng quan niệm về nhân quyền (và quyền lực) giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ như hai thái cực: dân chủ và độc tài; tự do và toàn trị.

Mỹ vĩ đại vì Mỹ, tuy không hoàn hảo, nhưng là một cường quốc hàng đầu của thế giới vì sức mạnh của Mỹ đã được xây dựng trên sự cạnh tranh một cách tự do nhất trong khuôn khổ pháp luật, của phần lớn xã hội (tất nhiên người da màu và những thành phần khác trong xã hội như phụ nữ, chẳng hạn, đã và vẫn còn đang bị phân biệt đối xử). Đây là nơi mà mọi sáng kiến và nhân tài trên toàn cầu về mọi lĩnh vực hội tụ để thi thố tài năng. Lịch sử của nước Mỹ cho thấy, khi Mỹ không phải cạnh tranh ý thức hệ hay quyền lực một sống một còn với cường quốc khác, như từ khi Chiến Tranh Lạnh chấm dứt đến nay, thì sự tiến bộ của Mỹ có giới hạn. Nhưng trước thách thức ngày càng lớn từ Trung Quốc, nếu các chính quyền Mỹ có thể giải quyết các vấn đề nội bộ, thì không có điều gì mà quốc gia này không thể làm. Cạnh tranh về quyền lực, hay nhân quyền, sẽ là động cơ để nước Mỹ tiến lên. Kể cả sự cải thiện về nhân quyền trong nước Mỹ cũng như nhân quyền trên thế giới.

https://www.voatiengviet.com/a/xung-dot-my-trung-gia-tri-quyen-loi/5859945.html

Úc hủy thỏa thuận ‘Vành đai và Con đường’ với Trung Cộng

Friday, April 23rd, 2021

Ngoại trưởng Marise Payne (ảnh: Youtube/9 News Australia).

Úc đã quyết định hủy hai thỏa thuận do bang Victoria ký kết với Trung Quốc về việc tham gia Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường, Epochtimes cho hay.

Theo quy định mới của Canberra, Ngoại trưởng Marise Payne có quyền xem xét và hủy bỏ bất kỳ thỏa thuận nào giữa chính quyền bang với nước ngoài được cho là đe dọa lợi ích quốc gia.

Hôm 21/4, bà Payne quyết định hủy 4 thỏa thuận, trong đó có hai thỏa thuận mà Victoria đã thống nhất với Trung Quốc vào năm 2018 và 2019, về hợp tác với Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường. Hai thỏa thuận bị hủy còn lại là giữa bang Victoria với Iran và Syria.

Ngoại trưởng Payne trong một tuyên bố cho biết: “Tôi coi 4 thỏa thuận này là không phù hợp với chính sách đối ngoại của Australia hoặc bất lợi cho quan hệ đối ngoại của chúng tôi”. 

Đáp lại, Đại sứ quán Trung Quốc tại Úc nói rằng quyết định của Canberra “nhất định sẽ gây thêm thiệt hại cho quan hệ song phương”, nhấn mạnh nước này “rất không hài lòng và kiên quyết phản đối” động thái này.

Quyết định của Úc được đưa ra vào thời điểm quan hệ giữa Bắc Kinh và Canberra đang xấu đi, khi hai chính phủ đang căng thẳng về thương mại và cạnh tranh ảnh hưởng ở Thái Bình Dương. Năm 2018, Úc trở thành quốc gia đầu tiên công khai cấm gã khổng lồ công nghệ Trung Quốc Huawei khỏi mạng 5G của họ.

Mối quan hệ Úc-Trung đã trở nên tồi tệ vào năm ngoái khi Canberra kêu gọi một cuộc điều tra độc lập về nguồn gốc của sự bùng phát virus cúm Vũ Hán. Đáp lại Trung Quốc đã áp đặt một loạt các biện pháp trừng phạt thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu của Australia, từ rượu vang, thịt, đến than đá.

Điểm tin thế giới ngày Thứ năm 22 tháng 4 năm 2021 – Võ Thái Hà tóm lược

Friday, April 23rd, 2021

17.000 tàu cá Trung Quốc càn quét các vùng biển

Ảnh chụp màn hình Youtube kênh DKN.TV.

Trong nỗ lực thúc đẩy trở thành siêu cường hàng hải của Bắc Kinh, đội tàu đánh cá của Trung Quốc đã phát triển trở thành lớn nhất thế giới cho đến nay – và nó đã trở nên hung hăng hơn, gây ra căng thẳng trên toàn cầu, tờ Wall Street Journal cho hay.

(more…)

46 năm nhìn lại Truyền Thông Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam và ngày nay – Thái Hóa Lộc

Wednesday, April 21st, 2021
Nghe âm thanh do Đỗ Hiếu đọc

Thái Hóa Lộc

Những người lính Việt Nam Cộng Hòa và những người Việt tị nạn Cộng Sản mỗi lần Tưởng niệm ngày Quốc Hận 30-4 đều ngậm ngùi nhớ về dĩ vãng đau thương, ngày Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử và những thảm họa xảy ra sau đó. Ngày mà hàng vạn người bỏ xác nơi rừng sâu, vùi thân dưới đại dương chấp nhận cái chết để tìm tự do và còn nhiều oan khiên khác trong các trại tù Cộng sản, nơi đày ải các cựu quân, cán chính Việt Nam Cộng Hòa. Hậu quả đã đưa đến thảm trạng này cho đến ngày nay không ai có thể phủ nhận vai trò truyền thông Hoa Kỳ đã trực tiếp làm đảo ngược tình hình thực tế và đưa đến sự suy vong của Việt Nam Cộng Hòa.

Nếu năm 1950 chỉ có khoảng dưới 10% gia đình Mỹ có truyền hình thì đến năm 1966, khi cuộc chiến Việt Nam leo thang và có khoảng hơn 400 ngàn lính Mỹ đang tham chiến tại Việt Nam với khoảng sáu ngàn binh sĩ tử trận, đã có hơn 90% gia đình Mỹ có truyền hình và theo dõi tin tức chiến sự từ Việt Nam qua truyền hình. Truyền thông với cuộc chiến truyền hình (television war) đã đóng vai trò và ảnh hưởng gì đến kết quả cuộc chiến? Các phương tiện kỹ thuật và nghiệp vụ tân tiến hơn gấp bội so với Đệ Nhị Thế Chiến, các ký giả trẻ luôn muốn có những tấm ảnh, thước phim hay các phóng sự trực tiếp và đầu tiên đến công chúng Mỹ và thế giới. Các thước phim thu được đã nhanh chóng chuyển về Tokyo để hoàn tất các bước kỹ thuật và biên tập cần thiết và chuyển về Mỹ để phát sóng hay có thể dùng vệ tinh cho các bản tin nóng sốt, được đăng báo hay phát trên truyền hình, nơi người dân Mỹ có thể theo dõi chiến cuộc cùng tin tức con cái họ ngay trong phòng khách của mình.

Các phong trào nhân quyền phát triển mạnh mẽ hơn, một trong điều được giới sử gia nhìn nhận là truyền thông trong chiến tranh Việt Nam đã không bị kiểm duyệt nhờ vào quyền tự do báo chí. Không chỉ theo dõi các hình ảnh, các phóng sự, công chúng Mỹ còn dựa vào các bình luận của những nhà bình luận chính trị và phân tích thời cuộc. Hàng loạt các tên tuổi truyền thông gạo cội của Hoa Kỳ được biết đến từ thời chiến tranh Việt Nam.

Chính vì vậy mà tin tức và diễn biến của chiến tranh Việt Nam đã áp đảo tại Mỹ trong nửa cuối thập niên 60s tại Mỹ đã gây nên cảm xúc và ảnh hưởng đến nhìn nhận của đại chúng. Lần đầu tiên người dân Mỹ chứng kiến những hình ảnh và thước phim hoặc nguyên thủy hay kịch tính hóa về sự khốc liệt, bạo tàn của chiến tranh với hình ảnh gian khổ, nguy hiểm rồi thương tích, chết chóc của người lính đánh động vào người xem rất lớn, dẫn đến làn sóng phản đối chiến tranh khi con số tử vong của binh sĩ Hoa Kỳ cùng chi phí chiến tranh ngày càng tăng cao.

Những người chống chiến tranh cho rằng đó là một cuộc chiến không cần thiết và người lính Mỹ chết tại nơi xa lạ nào đó không phải để bảo vệ cho chính họ, cho chính nước Mỹ. Mà nó là sự sai lầm của chính phủ để bị sa lầy vào một cuộc chiến thoạt đầu ngỡ chỉ là một cuộc thanh trừng phiến quân sẽ nhanh chóng kết thúc khi 3,500 lính Thủy Quân Lục Chiến thiện chiến được chỉ huy bởi những cấp chỉ huy tài ba trong chiến tranh Triều Tiên hay Đệ Nhị Thế Chiến đổ bộ xuống Đà Nẵng vào tháng Ba năm 1965. Truyền thông nghĩ rằng họ chỉ làm công việc tường trình chiến tranh còn các quyết định hay chiến lược là từ Ngũ Giác Đài và các đời tổng thống. Họ không có thẩm quyền hay khả năng can dự, bắt đầu hay kết thúc cuộc chiến ngoài việc thực hiện vai trò của mình. Truyền thông Hoa Kỳ đã không công bình và trung thực khi đưa tin và hoàn toàn gây mất thiện cảm với người dân Hoa Kỳ nhất là những gia đình có con cái hoặc thân nhân tham chiến tại Việt Nam.

Không ít người cho rằng truyền thông đã góp phần ảnh hưởng và chịu trách nhiệm về sự thất bại của cuộc chiến Việt Nam. Sau gần nửa thế kỷ, có vô số lý do và sự thật về cuộc chiến Việt Nam vẫn đang còn là điều gây tranh cãi, khó lòng thỏa mãn cho tất cả những bên dự phần. Nhìn vào vai trò và trách nhiệm ở mỗi góc khác nhau, kể cả vai trò của truyền thông Hoa Kỳ, sẽ cho người ta ghép lại phần nào bức tranh toàn cảnh của cuộc chiến đầy ám ảnh này…

Truyền thông Hoa Kỳ ngày nay đã biến dạng đang hướng dẫn quần chúng Mỹ theo đường lối có chủ đích mà họ muốn. Sức mạnh truyền tin và sức mạnh big tech đang làm lũng đoạn chính trị và đường lối của Hoa Kỳ rất trầm trọng. Chính vì vậy theo Breitbart đưa tin Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Josh Hawley vào ngày 19/4 đã giới thiệu một dự luật nhắm mục tiêu vào các công ty Big Tech, bao gồm việc kiểm soát các hành vi bị lên án trong thời gian qua của Amazon và Google. Dự luật cấm Big Tech vận hành công cụ tìm kiếm, thị trường và sàn giao dịch bán hoặc quảng bá hàng hóa và dịch vụ của chính họ thông qua các thị trường và công cụ tìm kiếm nói trên. Nếu được thông qua, đây sẽ là một đòn giáng mạnh vào Amazon và Google, những công ty thường xuyên tham gia vào cả hai hoạt động này.

Trong một điều khoản khác có vẻ như được thiết kế riêng để kiềm chế Amazon và Google, dự luật cấm các công ty cung cấp công cụ tìm kiếm, thị trường và sàn giao dịch đối với “dịch vụ lưu trữ và cơ sở hạ tầng internet” cho các bên thứ ba.Theo đạo luật này, Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC) sẽ giám sát việc tuân thủ các quy định đối với Big Tech. Tổng chưởng lý của tiểu bang và các thực thể bị thiệt hại do các công ty công nghệ vi phạm luật được trao quyền khởi kiện.Amazon đang dẫn đầu thị trường về dịch vụ lưu trữ đám mây, trong khi Google điều hành một dịch vụ tương tự có tên là Google Cloud. Google cũng vận hành Google Fiber, cung cấp Internet băng thông rộng và IPTV trên toàn quốc.Amazon đã đơn phương chấm dứt hợp đồng cung cấp dịch vụ lưu trữ đám mây cho Parler, một mạng xã hội ủng hộ quyền tự do ngôn luận. Trong khi đó Google bị cáo buộc kiểm duyệt thông tin dựa trên quan điểm chính trị và có mối quan hệ mờ ám với Đảng Cộng sản Trung Quốc.Thượng nghị sĩ Hawley cho biết: “Các công ty Big Tech như Google và Amazon đã được các chính trị gia ở Washington nâng đỡ trong nhiều năm”. “Kiểu cư xử này đã cho phép họ tích lũy được lượng quyền lực khổng lồ mà họ sử dụng để kiểm duyệt các quan điểm chính trị mà họ không đồng ý và loại bỏ các đối thủ cạnh tranh cung cấp cho người tiêu dùng một giải pháp thay thế cho hiện trạng”.Ông cho biết thêm: “Đã quá đủ để loại bỏ các công ty của Big Tech, khôi phục sự cạnh tranh và trao lại quyền lực cho người tiêu dùng Mỹ”.Truyền thông ngày nay không còn là truyền tin nữa , mà là cơ quan tuyên truyền cho đảng phái, phe nhóm. Người xem cũng biết rõ mình muốn nghe cái gì; không còn trung thực nữa.

Trung tâm Nghiên cứu Truyền thông (MRC) đã xem xét cách thức các đài ABC, CBS và NBC đưa tin về nhiệm kỳ tổng thống của ông Trump và ông Biden từ ngày nhậm chức đến ngày 9/4.MRC kết luận rằng “Trong ba tháng đầu tiên nắm quyền, các bản tin phát sóng buổi tối đã đưa 59% tin tích cực cho ông Biden. Bốn năm trước, chính những chương trình này đã tấn công ông Trump với 89% tin tiêu cực – đây là một sự tương phản đáng ngạc nhiên”.

Cụ thể Trung tâm MRC cho biết: “Bốn năm trước, ông Trump đã phải đối mặt với việc bị báo chí đưa tin tiêu cực từ đầu nhiệm kỳ. Theo ghiên cứu  vào thời điểm đó cho thấy ba bản tin buổi tối đưa 89% tin tiêu cực về Tổng thống mới, một sự thù địch chưa từng có thể hiện cách tiếp cận của giới truyền thông trong bốn năm tiếp theo của cựu TT Trump. Ngày nay, Tổng thống Biden có bối cảnh truyền thông thân thiện hơn nhiều. Nhìn chung, trong những tuần đầu tiên, chúng tôi nhận thấy tin tích cực về chính quyền Biden là 59%, tiếp nối cho cách đưa tin tích cực của các đài này với ông Biden trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm ngoái”.

Nghiên cứu của MRC chỉ ra mức độ đưa tin tích cực cho TT Biden phụ thuộc vào các chủ đề khác nhau. Ví dụ, các phương tiện truyền thông đã đưa tin rất tích cực về cách chính quyền Biden phản ứng với COVID-19, dự luật cứu trợ COVID khổng lồ trị giá 1,9 nghìn tỷ USD và dự luật cơ sở hạ tầng trị giá 2,25 nghìn tỷ USD do ông Biden đề xuất. Các chủ đề khác, như việc chính quyền Biden giải quyết cuộc khủng hoảng biên giới phía Nam và kiểm soát súng, hầu hết đều nhận được tin tức tiêu cực từ báo chí.

Hoa Kỳ ngày nay không còn cơ quan truyền thông nữa mà chỉ có các cơ quan tuyên truyền thôi và các mạng xã hội lại có điều kiện xuất hiện khắp nơi tha hồ tung tin fake news – tin giả. Ai muốn nghe phe nào cũng có tùy theo thị hiếu của mình.

Trung Cộng – kẻ gây thảm họa nhân quyền lớn nhất trong lịch sử nhân loại

Wednesday, April 21st, 2021
Đảng Cộng sản Trung Quốc - kẻ gây ra thảm họa nhân quyền lớn nhất trong lịch sử nhân loại

Một khi sương mù dối trá bị quét sạch, thì nó sẽ sụp đổ ngay lập tức! Vì vậy mới nói rằng, ngày tàn của ĐCSTQ đã không còn xa. (Ảnh: NTD Việt Nam tổng hợp)

Đông PhÆ°Æ¡ng • 15:57, 19/04/21• 504 lượt xem

“Các học viên Pháp Luân Công phải chịu cuộc bức hại tàn khốc nhất chỉ vì họ chọn môn tu luyện khí công tốt cho cả thể chất lẫn tinh thần, giống như người Mỹ chọn chạy bộ và xem đấu bóng bầu dục. Hãy tưởng tượng, một chính quyền đột nhiên tuyên bố rằng những người chạy bộ và xem bóng bầu dục là những người xấu xa, và sau đó bắt bớ, tra tấn và giết hại, cho đến khi bạn chạy trốn đến phần còn lại của thế giới, nó vẫn truy bắt và bức hại bạn, xã hội nhân loại còn chính quyền nào tà ác hơn vậy không?”.

(more…)

Trung Cộng và Myanmar đàn áp tôn giáo nghiêm trọng nhất – Báo cáo

Wednesday, April 21st, 2021

Thanh Mai | DKN

Hình minh họa biểu tình Myanmar chụp từ video của The Straits Times.

Theo một báo cáo của một tổ chức từ thiện do Vatican tài trợ, các vụ vi phạm tự do tôn giáo ngày càng gia tăng và cuộc đàn áp diễn ra ở hơn 25 quốc gia, trong đó Trung Quốc và Myanmar là những quốc gia ghi nhận tình trạng này tồi tệ nhất, Reuters.

Báo cáo Tự do Tôn giáo trên Thế giới năm 2019-2020, được phát hành hôm thứ Ba 20/3, dài 800 trang do Aid to the Church in Need International, một tổ chức từ thiện Công giáo trên toàn thế giới nghiên cứu về các vi phạm quyền tự do của tất cả các tôn giáo.

Báo cáo mới nhất đã đưa 26 ​​quốc gia vào danh mục “màu đỏ” biểu thị tồn tại cuộc bức hại tôn giáo, so với 21 quốc gia được báo cáo cách đây hai năm.

Ngoài ra, 36 quốc gia vào danh mục “màu da cam” biểu thị sự phân biệt đối xử, so với con số 17 quốc gia vào hai năm trước.

Báo cáo cho biết:
“Đã có sự gia tăng đáng kể về mức độ nghiêm trọng của các cuộc đàn áp và bắt bớ có động cơ tôn giáo”.

Báo cáo cũng chỉ ra rằng, Trung Quốc và Myanmar là hai quốc gia đàn áp tôn giáo nghiêm trọng nhất.

Theo báo cáo, “Bộ máy đàn áp do Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) xây dựng trong những năm gần đây… được tinh chỉnh, lan rộng và công nghệ tinh vi”.

Các vi phạm nghiêm trọng nhất là cuộc đàn áp người Duy Ngô Nhĩ theo đạo Hồi ở Tân Cương. Báo cáo mô tả, các hành động đàn áp tàn bạo đến mức độ ngày càng nhiều các chuyên gia mô tả đó là tội diệt chủng.

Ngoài ra, các tín đồ Công giáo ở Trung Quốc “tiếp tục bị sách nhiễu và bắt giữ”. Năm ngoái, Reuters đưa tin rằng hai nữ tu làm việc tại cơ quan truyền giáo của Vatican ở Hồng Kông đã bị bắt khi họ về thăm nhà ở đại lục.

Chính quyền Trung Quốc đang tăng cường sử dụng hệ thống nhận dạng khuôn mặt đối với những người thờ phượng các tôn giáo khác nhau.

Còn tại Myanmar, báo cáo cho biết người Hồi giáo Rohingya “là nạn nhân của những vụ vi phạm nhân quyền nghiêm trọng nhất trong thời gian gần đây”.

Năm ngoái, Tòa án Công lý Quốc tế đã yêu cầu Myanmar thực hiện các biện pháp khẩn cấp để bảo vệ người Rohingya khỏi nạn diệt chủng.

Báo cáo cho biết châu Phi sẽ là “chiến trường tiếp theo chống lại các tín đồ Hồi giáo”.

Giới chức Thượng Hải che giấu thất bại về phòng ngừa và kiểm soát virus trên thực phẩm đông lạnh

Wednesday, April 21st, 2021
  • Thứ tư, 21/04/2021 – Epoch Times tiếng Việt.

Trung Cộng luôn hô hào rằng đã phòng ngừa và kiểm soát virus Trung Cộng (virus corona chủng mới) trên thực phẩm đông lạnh nhập cảng. Gần đây, Epoch Times có được một tài liệu nội bộ, cho thấy việc phòng ngừa và kiểm soát virus khép kín trên thực phẩm đông lạnh ở Thượng Hải đã thất bại, nhưng giới chức nơi này không báo cáo, mà giấu giếm sự việc này.

Epoch Times có được tài liệu “Tình hình điều tra bạch tuộc đông lạnh Pakistan tại Kho lạnh Long Môn, quận Dương Phổ” của Cục quản lý giám sát thị trường quận Dương Phổ, thành phố Thượng Hải, công bố ngày 20/03/2021. Tài liệu này tiết lộ rằng việc phòng ngừa và kiểm soát virus Trung Cộng trên sản phẩm đông lạnh của Thượng Hải đã thất bại. Đó cũng là lý do sau khi hải sản được lưu chuyển đến Chu Sơn (tỉnh Chiết Giang) làm xét nghiệm mới phát hiện dương tính.

(more…)

Lục quân Hoa Kỳ chuẩn bị cho xung đột toàn cầu có thể xảy ra với Trung Quốc

Wednesday, April 21st, 2021
  • Thứ tư, 21/04/2021

Những giả thiết kinh điển xoay quanh một cuộc chiến tranh có thể xảy ra giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc tập trung vào các trận hải chiến trong khu vực tại Eo biển Đài Loan hoặc Biển Đông, tuy nhiên Thiếu tướng Lục quân Hoa Kỳ Richard Coffman gần đây đã tuyên bố rằng người dân Hoa Kỳ phải và đang chuẩn bị cho một cuộc xung đột trên phạm vi toàn cầu với Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).

Hoa Kỳ chuẩn bị xung đột với Trung Quốc
Thiếu tướng Lục quân Hoa Kỳ Richard Coffman (phải) phát biểu tại hội thảo trên web do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) tổ chức vào hôm 10/03/2021. (Ảnh: Chụp màn hình hội thảo trên web)

Dưới sự lãnh đạo của tướng Coffman, việc phát triển Phương tiện Chiến đấu Thế hệ Tiếp theo (NGCV) là một loại công nghệ và thiết bị đang được chuẩn bị cho một cuộc xung đột như vậy.

Tướng Trung Quốc Hứa Kỳ Lượng, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương và là tư lệnh thứ hai ngoài ông Tập Cận Bình, đã kêu gọi tăng chi tiêu quân sự vào hồi đầu tháng Ba, một phần vì ông nhận định rằng một cuộc xung đột quân sự giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHND Trung Hoa) và Hoa Kỳ là không thể tránh khỏi. Đây là lần đầu tiên một tuyên bố như vậy được đưa ra công khai ở cấp cao nhất của PLA.

Vài ngày sau, vào các ngày 10/03 và 15/03, ông Coffman đã đề cập đến tuyên bố này của ông Hứa trong các tuyên bố trực tuyến gửi riêng đến Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Hoa Kỳ (CSIS) và Trung tâm Đánh giá Chiến lược và Ngân sách (CSBA). Ông bình luận rằng, “Bất cứ ai tỏ ý định gây chiến với Hoa Kỳ thì thường sẽ là dại dột tuy nhiên … chúng ta chỉ cần phải sẵn sàng, bất kể là ở đâu hay lúc nào.”

CHND Trung Hoa là mối đe dọa rình rập của Hoa Kỳ

Tướng Coffman cho biết trên thế giới có “nhiều tác nhân xấu xa,” và Trung Quốc Cộng sản là một trong số đó, nhưng không giống với những tác nhân khác, CHND Trung Hoa là mối đe dọa lớn nhất đối với Hoa Kỳ. Ông giải thích thêm, “Họ đang dùng đến toàn bộ chính phủ, 24 giờ một ngày, bảy ngày một tuần, 365 [ngày], trên khắp các lĩnh vực ngoại giao, thông tin, quân sự, và kinh tế [để cạnh tranh và làm suy yếu Hoa Kỳ].”

Theo ông Coffman, Hoa Kỳ chỉ có hai lựa chọn khi đối mặt với sự cạnh tranh quân sự của Trung Quốc Cộng sản, hoặc là ngăn chặn hoặc là hưởng ứng xung đột. “Hoa Kỳ đang tiến hành ngăn chặn [bởi vì] chúng ta không muốn tham chiến.” Để tránh hiểu nhầm, tướng Coffman giải thích rằng một khi Bắc Kinh nghĩ rằng Hoa Kỳ đã nhượng bộ hoặc không sẵn sàng cho chiến tranh, họ sẽ càng khiêu khích hơn nữa, hoặc thậm chí sẽ khơi mào chiến tranh. Thế nên, thay vào đó, Hoa Kỳ phải luôn chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc chiến toàn cầu với Trung Quốc, cùng với sức mạnh tuyệt đối để áp chế sự thôi thúc tiến hành chiến tranh của phía bên kia.

Tướng Coffman tin rằng nếu xảy ra xung đột quân sự giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, Bắc Kinh sẽ không giới hạn xung đột này tại Biển Đông hay Eo biển Đài Loan. “Mọi kịch bản dù nó bắt đầu từ đó hay ở nơi khác, thì xung đột đều sẽ lan nhanh trên toàn cầu, nhanh hơn cả cháy rừng.” Ông Coffman cảnh báo rằng cuộc xung đột này có thể sớm mở rộng qua một đêm đến tận Bắc Cực hoặc châu Phi. Ông cảnh báo, “Đây là một tình huống toàn cầu mà chúng ta hẳn là đang phải đối phó. Bất kỳ ai tin rằng Trung Quốc sẽ tự giới hạn mình đang lúc xung đột đều là thiển cận.”

Tập trung vào năng lực, không phải vào xác suất

Trong khi xác suất xảy ra chiến tranh là chủ đề nóng nhất, Tướng Coffman nhấn mạnh rằng nhiệm vụ của ông là phát triển năng lực. “[Lục quân Hoa Kỳ] là một đội quân toàn cầu. Chúng ta phải sẵn sàng chiến đấu ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Trung Quốc là mối đe dọa rình rập của chúng ta và chúng ta sẽ tăng tốc, nâng tầm quy mô hoạt động, và tính quyết đoán để có thể nắm quyền quyết định ở bất kỳ đâu trên thế giới và giành được chiến thắng.”

Một số người đã quen với việc coi khu vực hoạt động của Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ chủ yếu là một quân khu thủy quân, nhưng Tướng Coffman lập luận rằng “Lục quân là một đối tác đáng tự hào của lực lượng liên hợp” và là “lực lượng duy nhất mà sẽ là yếu tố quyết định … để càn quét, chiếm, và giữ lấy vùng đất mục tiêu.”

Hoa Kỳ xung đột với Trung Quốc
Một xe chiến đấu robot từ đội xe Project Origin chuẩn bị cho một cuộc chạy diễn tập trong Dự án Hội tụ 20 (Project Convergence 20) tại cơ sở  Yuma Proving Ground, Arizona. (Ảnh: Lục quân Hoa Kỳ/Hạ sĩ nghiệp vụ Carlos Cuebas Fantauzzi)

Số lượng binh chủng mặt đất và xe tăng của PLA cũng đòi hỏi Lục quân Hoa Kỳ phải chuẩn bị thật kỹ lưỡng để chiến đấu trên bộ. Theo Tướng Coffman, Trung Quốc có khoảng 7,000 xe tăng và 3,000 xe chiến đấu bộ binh, trong tổng số 10,000 xe chiến đấu bọc thép. “Chúng ta phải có xe bọc thép ở đó để ngăn chặn người Trung Quốc chiếm được vị trí tương đối có lợi thế này.”

Tướng Coffman cũng nhấn mạnh giá trị của các hoạt động tác chiến liên hợp để đạt được hiệu quả tối ưu, cho dù là bên trong Lục quân, giữa các binh chủng, hay trong việc áp dụng các loại công nghệ và vũ khí.

Tướng Coffman là Giám đốc của Nhóm Đa chức năng về Phương tiện Chiến đấu Thế hệ Tiếp theo (NGCV CFT) của Bộ chỉ huy Tương lai Lục quân (the Army Futures Command). “NGCV; các robot mạnh cỡ lớn; Hỏa lực được bảo vệ cơ động và các xe bọc thép đa năng là những trọng tâm chính cho tương lai của lực lượng chiến đấu này,” tài khoản NGCV CFT của Lục quân Hoa Kỳ đã tweet vào hôm 16/03.

Khả năng sống sót, tính cơ động, khả năng sát hại, và khối lượng hỏa lực là những đặc điểm chính của các phương tiện mới được phát triển này. “Khả năng sống sót là ưu tiên số một đối với tôi,” Tướng Coffman nhấn mạnh. Những người lính Hoa Kỳ luôn sẵn sàng khi quốc gia kêu gọi, và các nhà lãnh đạo bảo đảm rằng họ được trang bị những thiết bị tiên tiến nhất để giành chiến thắng và giữ an toàn. “Trên hệ thống phân cấp của tôi, các phương tiện thực sự đứng ngay sau con người này. Tất cả là về những người lính của chúng ta,” Tướng Coffman nói khi phát biểu tại Hội nghị Xe bọc thép Quốc tế vào năm 2020.

Sức mạnh lớn nhất của Quân đội Hoa Kỳ

PLA cũng đang làm việc ngày đêm để hiện đại hóa công nghệ và quân đội của mình, một điểm đặc biệt của việc đó là để theo sát từng bước công nghệ của quân đội Hoa Kỳ, đã sử dụng nhiều phương cách khác nhau như gián điệp và đánh cắp tài sản trí tuệ. “Số lần những tài sản trí tuệ của chúng ta bị Trung Quốc và các nước khác đánh cắp và sao chép là rất nhiều,” Tướng Coffman cho biết.

Ông nói rằng ông tin đó là do quân đội Hoa Kỳ tiến bộ hơn về công nghệ nên PLA luôn bắt chước họ, tuy nhiên, có một yếu tố quyết định mà PLA không thể học hoặc đánh cắp. Ông lưu ý rằng điều mà PLA “sẽ không bao giờ có được là những người phụ nữ và nam giới chuyên nghiệp của các lực lượng vũ trang của chúng ta có khả năng chiến đấu như một lực lượng chung và như là một đội vũ trang tổng hợp mang tính cơ động. Đó chính là lợi thế của chúng ta, lợi thế đó được kết hợp với các nỗ lực hiện đại hóa của chúng ta là điều khiến chúng ta trở thành quân đội tốt nhất trên thế giới.”

Do Arthur Zhang thực hiện
Doanh Doanh biên dịch